|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 80/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 12 - 12 - 2025
V/v “Yêu cầu tuyên bố không
công nhận quan hệ vợ chồng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuyên
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Thành Phước.
- Ông Nguyễn Thanh Rực.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Trân – Thư ký của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc
Ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 186/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc: “Yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 227/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lưu Thị T; Sinh năm: 1976. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Huỳnh Văn H; Sinh năm: 1977. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 10 năm 2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Lưu Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Bà Lưu Thị T và ông Huỳnh Văn H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1996, nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến tháng 02/2001 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng ý kiến trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Bà T và ông H sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay bà T xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và ông H không còn, nên bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố giữa bà và ông H không phải là vợ chồng. Về con chung: Trong thời gian chung sống bà T và ông H có 01 người con chung tên là Huỳnh Văn T1, sinh ngày: 19/4/1996. Hiện nay, T1 đã thành niên, không mắc bệnh tật gì, tự lao động nuôi sống bản thân được, nên bà T không có yêu cầu gì. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên bà T không có yêu cầu gì.
Tại Bản tự khai ngày 20 tháng 11 năm 2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Huỳnh Văn H trình bày: Ông H đồng ý theo yêu cầu của bà T là yêu cầu Tòa án tuyên bố giữa ông và bà T không phải là vợ chồng; Về con chung: Con chung của ông H và bà T là Huỳnh Văn T1, sinh ngày: 19/4/1996. Hiện đã thành niên, không mắc bệnh tật gì, nên ông H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết; Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên ông H không có yêu cầu gì.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Trong vụ án này Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là xử Tuyên bố không công nhận bà Lưu Thị T và ông Huỳnh Văn H là vợ chồng; Về con chung, về tài sản chung và nợ chung, không có đề nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Lưu Thị T là nguyên đơn, ông Huỳnh Văn H là bị đơn đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông H.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân:
Bà Lưu Thị T và ông Huỳnh Văn H có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương vào năm 1996, trên tinh thần tự nguyện của ông bà, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chung sống do vợ chồng bất đồng ý kiến trong cuộc sống, nên đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc, kéo dài đến tháng 02/2001 thì ông bà sống ly thân cho đến nay. Tại đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 10 năm 2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố giữa bà và ông H không phải là vợ chồng. Tại Bản tự khai ngày 20 tháng 11 năm 2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Huỳnh Văn H cũng yêu cầu Tòa án tuyên bố giữa ông và bà T không phải là vợ chồng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Bà T và ông H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1996, có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình, nhưng ông bà không đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình, nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Tại đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 10 năm 2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố giữa bà và ông H không phải là vợ chồng. Tại Bản tự khai ngày 20 tháng 11 năm 2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Huỳnh Văn H cũng yêu cầu Tòa án tuyên bố giữa ông và bà T không phải là vợ chồng là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình xử tuyên bố không công nhận bà T và ông H là vợ chồng.
[2.2] Về con chung: Trong thời gian chung sống bà T và ông H có 01 người con chung tên là Huỳnh Văn T1, sinh ngày: 19/4/1996. Hiện nay, T1 đã thành niên, không mắc bệnh tật gì, tự lao động nuôi sống bản thân được, nên bà T và ông H không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông H không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu nghĩa vụ án phí đối với vụ án hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng; Ông H không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và Lệ phí; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị Tím .
- Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Lưu Thị T và ông Huỳnh Văn H là vợ chồng.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống bà T và ông H có 01 người con chung tên là Huỳnh Văn T1, sinh ngày: 19/4/1996. Hiện nay, T1 đã thành niên, không mắc bệnh tật gì, tự lao động nuôi sống bản thân được, nên bà T và ông H không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông H không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lưu Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, nhưng bà được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí, Tòa án số 0004643 ngày 08 tháng 10 năm 2025 của của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Như vậy, bà T đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm; Ông Huỳnh Văn H không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bà Lưu Thị T và ông Huỳnh Văn H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm..
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Mỹ Xuyên |
Bản án số 80/2025/HNGĐ-ST ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ về yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 80/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố không công nhận bà Lưu Thị T và ông Huỳnh Văn H là vợ chồng
