trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2025/HNGĐ – ST

Ngày: 30 – 9 – 2025

V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Xuân Khanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Thanh Vân
  2. Bà Nguyễn Thị Hân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Yến Thương – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9-An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 19/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 11/8/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 269/2025/QĐST – HNGĐ ngày 08/9/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn R, sinh năm 1990
  2. Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã P, tỉnh An Giang và số C, đường N, phường C, Thành phố Cần Thơ.

  3. Bị đơn: Bà Trần Thị Tuyết T, sinh năm 1996
  4. Địa chỉ: Số A, khóm T, phường L, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, ông Lê Văn R vắng mặt và có đơn đề nghị được vắng mặt; bà Trần Thị Tuyết T vắng mặt, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Lê Văn R trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Trần Thị Tuyết T tự nguyện quen biết, tìm hiểu nhau được khoảng 01 năm và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 72 ngày 16/4/2019. Hôn nhân lần thứ nhất của cả hai. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống được hơn 04 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không phù hợp tính tình, không có tiếng nói chung, mỗi người sinh sống và làm việc một nơi khác nhau. Ông là giáo viên công tác tại Cần Thơ, bà T là dược sĩ bán thuốc tại L nên không có nhiều thời gian gần gũi, chia sẽ, tình cảm gia đình không được vun đắp. Dẫn đến mối quan hệ vợ chồng ngày càng phai nhạt, không còn gắn bó. Ông và bà T nhiều lần tìm biện pháp hàn gắn nhưng không thành. Do đó, ông bà tự ly thân hơn 01 năm qua. Nay, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên ông R yêu cầu được ly hôn bà T. Bà T hiện nay đang sinh sống tại nhà của cha mẹ ruột, địa chỉ số A, khóm T, phường L, An Giang. Ông Trần Văn H là cha ruột của bà T.

Về con chung: Ông và bà T có 01 con chung tên Lê Trần Hạ An S ngày 08/8/2019, đang được bà T trực tiếp chăm sóc. Để ổn định cuộc sống của cháu A, ông R đồng ý giao cháu A cho bà T nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông R không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà Trần Thị Tuyết T không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến qua yêu cầu ly hôn, nuôi con của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-An Giang phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng như xác định quan hệ tranh chấp, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là bà T vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Ông R có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS).

Về nội dung: Nhận thấy, mục đích hôn nhân của ông R và bà T không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông R. Về con chung, ông R đồng ý giao cháu A cho bà T được quyền nuôi dưỡng. Do đó, để ổn định tâm lý cho cháu A, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình, giao cháu A cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng. Phía bà T không có ý kiến tài sản chung, nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lắng nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Tranh chấp giữa ông Lê Văn R và bà Trần Thị T1 là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú hợp pháp tại phường L, tỉnh An Giang. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, Tòa án nhân dân khu vực 9 – An Giang thụ lý giải quyết.

[2] Căn cứ vào kết quả xác minh tình trạng cư trú ngày 11/8/2025 của Công an phường L là đủ cơ sở để xác định bà T có nơi cư trú hợp pháp tại địa chỉ số A, khóm T, phường L, tỉnh An Giang. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết công khai, các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177 và 179 của BLTTDS cho bà T tại địa chỉ cư trú trên. Bà T là người trực tiếp nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử và nhận quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bà T tiếp tục vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Phía ông R1 có Đơn đề nghị được vắng mặt khi xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của BLTTDS quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Văn R và bà Trần Thị Tuyết T tự nguyện tiến đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã M cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 72 ngày 16/4/2019 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.

[4] Ông R cho rằng, vợ chồng ông phát nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và do điều kiện công việc nên ông bà không thể gần gũi, thông cảm, chia sẻ, ông và bà T đã nhiều lần tìm biện pháp hàn gắn nhưng không thành. Phía bà T được Tòa án triệu tập nhiều lần, tống đạt, niêm yết công khai các văn bản tố tụng. Tuy nhiên, bà T không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến qua yêu cầu ly hôn của ông R, không đến tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa. Như vậy, bà đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại Điều 70, Điều 72 của BLTTDS và đồng nghĩa với việc bà không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân của mình. Từ đó, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định, ông R và bà T không còn quan tâm lẫn nhau. Xét thấy, mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của ông R được ly hôn bà T.

[5] Về con chung: Căn cứ vào bản sao Giấy khai sinh số 364 ngày 24/3/2025, là đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa ông R và bà T có 01 con chung chưa thành niên tên Lê Trần Hạ An S ngày 08/8/2019. Ông R đồng ý để bà T tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, cháu A có giới tính nữ, đang được bà T nuôi dưỡng ổn định. Do đó, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông R về việc giao cháu A cho bà T được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Do không có ý kiến của bà T về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về tài sản chung và nợ chung: Do không có ý kiến của bà T về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét đến. Sau này, các bên phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

[8] Về án phí: Ông R phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do ông R1 đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0016651 ngày 10/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang, ông R đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  • - Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn R được ly hôn với bà Trần Thị Tuyết T.
  2. Về con chung: Ông R và bà T có 01 (một) con chung chưa thành niên tên Lê Trần Hạ An S ngày 08/8/2019.
  3. Giao cháu Lê Trần Hạ An S ngày 08/8/2019 cho bà bà Trần Thị Tuyết T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

  4. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
  5. (Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền được nuôi con của người trực tiếp nuôi con. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định tại Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; có quyền thoả thuận cấp dưỡng, trường hợp không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.)

  6. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
  7. Về án phí: Ông R phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do ông R1 đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0016651 ngày 10/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang, ông R đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  8. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh AG;
  • - VKSND khu vực 9 – An Giang;
  • - Phòng THADS khu vực 9 – An Giang;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Long Xuyên
  • (GCNKH số 72 ngày 16/4/2019);
  • - Lưu VT và hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Phạm Xuân Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2025/HNGĐ – ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 80/2025/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger