TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 80/2024/HSST Ngày 06-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: | ông Phan Thanh Tùng |
| Các Hội thẩm nhân dân: | 1. Bà Nguyễn Thị Ngưng |
| 2. Ông Lê Thanh Hải | |
| Thư ký phiên tòa: | Ông Trang Hoàng Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. |
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hồ Sơn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T; sinh ngày 26 tháng 5 năm 1979, tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: 87/1, ấp Q, xã H, huyện T, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (chết) và bà Võ Thị N1; vợ Trần Thị Bé L; có 03 người con lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2005; tiền sự, tiền án: không; bị cáo tại ngoại có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: vào khoảng tháng 5/2022, Nguyễn Văn T lên mạng xã hội Facebook thấy dịch vụ làm giấy phép lấy xe giả nên mua 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 với giá là 1.200.000 đồng để đối phó với cơ quan chức năng khi tham gia giao thông đường bộ. T được một người đàn ông (không rõ lai lịch) yêu cầu cung cấp thông tin cá nhân, địa chỉ, chụp hình căn cước công dân để làm giấy phép lái xe giả. Khoảng 01 tuần sau, nhân viên giao hàng (không rõ lai lịch) đến nhà giao Giấy phép lái xe hạng A1 giả. Sau khi kiểm tra đúng thông tin, T trả số tiền 1.200.000 đồng cho người giao hàng và cất giữ Giấy phép lái xe.
Khoảng 16 giờ ngày 27/11/2023, T điều khiển xe môtô biển số 71C3 – 414.38 đến khu vực ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh, thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông Công an huyện B yêu cầu dừng xe kiểm tra nồng độ cồn và xuất trình giấy tờ có liên quan. Qua kiểm tra, T có nồng độ cồn vượt quá 0,25 miligam/01 lít khí thở nên tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, tạm giữ 01 (một) xe môtô biển số 71C3 - 414.38 và 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn T. Trong quá trình xử lý vi phạm hành chính, Đ – Trật tự Công an huyện B tiến hành tra cứu thông tin giấy phép lái xe trên hệ thống của Cục Đ1, kết quả “Không tìm thấy thông tin Giấy phép lái xe số: [...], mang tên Nguyễn Văn T” nên đã chuyển hồ sơ cùng vật chứng liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Tây Ninh để điều tra theo thẩm quyền.
Tại Kết luận giám định số: 1916 ngày 21/12/2023, của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Giấy phép lái xe” hạng: A1; Số: [...], họ tên Nguyễn Văn T; ngày sinh: 1979; nơi cư trú: 8 Q, xã H, huyện T, tỉnh Bến Tre; cấp ngày 12/5/2022 cần giám định nêu trên là giấy phép lái xe giả.
Tại Bản cáo trạng số: 69/CT-VKSBC ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.
Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 06 đến 09 tháng tù.
Biện pháp tư pháp: đề nghị trả lại xe mô tô biển số 71C1-414.38, số khung: 3917KY36188; số máy: JA39E1228969 đã qua sử dụng cho bị cáo.
Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng: xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định. Khoảng tháng 5/2022, Nguyễn Văn T lên mạng xã hội Facebook đặt mua 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 giả với giá là 1.200.000 đồng. Sau đó, bị cáo cung cấp thông tin cá nhân cho một người đàn ông (không rõ lai lịch); khoảng 01 tuần sau bị cáo nhận được Giấy phép lái xe hạng A1 giả. Khoảng 16 giờ ngày 27/11/2023, T điều khiển xe môtô biển số 71C3 – 414.38 đến khu vực ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh, thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông Công an huyện B yêu cầu dừng xe kiểm tra, bị cáo xuất trình giấy phép lái xe. Công an huyện B tiến hành tra cứu thông tin giấy phép lái xe trên hệ thống của Cục Đ1, kết quả “Không tìm thấy thông tin Giấy phép lái xe số: [...], mang tên Nguyễn Văn T”; nên chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B xử lý theo thẩm quyền.
Tại Kết luận giám định số: 1916 ngày 21/12/2023, của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Giấy phép lái xe” hạng: A1; Số: [...], họ tên Nguyễn Văn T; ngày sinh: 1979; nơi cư trú: 8 Q, xã H, huyện T, tỉnh Bến Tre; cấp ngày 12/5/2022 cần giám định nêu trên là giấy phép lái xe giả.
Như vậy, bị cáo đã mua giấy phép lái xe giả, sau đó sử dụng thì bị bắt; hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức ", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến trực tự quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực cấp giấy phép lái xe; bị cáo sử dụng giấy phép lái xe giả nhằm lừa dối cơ quan nhà nước; xem thường pháp luật; trình trạng mua bán giấy phép lái xe giả trên mạng xã hội hiện nay rất phổ biến; để ngăn ngừa loại tội phạm này; cần xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
[4] Khi quyết định hình phạt có xem xét:
[4.1] Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Vật chứng: đối với xe mô tô biển số 71C1-414.38, số khung: 3917KY36188; số máy: JA39E1228969 đã qua sử dụng; cần tuyên trả lại cho bị cáo.
[6] Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức".
- Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Các biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 46 của Bộ luật hình sự.
T1 trả cho bị cáo Nguyễn Văn T xe mô tô biển số 71C1-414.38, số khung: 3917KY36188; số máy: JA39E1228969 đã qua sử dụng.
- Về án phí: bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tùng |
Bản án số 80/2024/HSST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 80/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NG VAN THANG - SU DUNG TAI LIEU GIA
