Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 80/2025/HS-ST

Ngày 01/4/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Cát Hoàng Trân.

ải Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lưu Văn Có
  2. Bà Võ Thị Bời

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa công khai xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Quang V, sinh năm 1995 tại: Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Q – SN 1974; con bà Nguyễn Thị M – SN 1977; bị cáo là con thứ 3 trong gia đình; Tiền án: Không;

Tiền sự:

  • Ngày 22/01/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định số 10/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 21/10/2020
  • Ngày 07/01/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định số 02/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 23/01/2024

Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2016/HSST ngày 30/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 26/4/2018, đã thi hành phần án phí.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố N.

2. Trần Quốc C, sinh năm 1995 tại: Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Thắng L – SN 1966; con bà Đinh Thị Như H – SN 1971; bị cáo là con thứ 3 trong gia đình;

Tiền án:

  • Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2017/HSST ngày 15/3/2017 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, phạt sung quỹ Nhà nước số tiền 5.000.000 đồng; chấp hành xong hình phạt ngày 30/7/2017; chưa thi hành phần sung quỹ Nhà nước và án phí hình sự sơ thẩm.
  • Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2022/HSST ngày 06/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 10/12/2023, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm

Tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 11/01/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 25/01/2021

Bị cáo bị tam giam từ ngày 19/7/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố N.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1978;

Nơi cư trú: Lô S đường A KĐT L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Văng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Huỳnh Thị Kim L1, sinh ngày 1977
  • Nơi cư trú: thôn P N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  • Ông Đinh Văn V1, sinh năm 1968
  • Nơi cư trú: TDP D Thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 31/5/2024, Trần Quốc C điều khiển xe máy hiệu Yamaha Sirius BKS 79V1-144.81 chở Nguyễn Quang V đi đến khu vực chợ Đ, thành phố N nhằm mục đích tìm ai để tài sản sơ hở thì trộm cắp. Khi di đến trước tiệm T2 đường B, X, N, Khánh Hòa, cả hai phát hiện chị Nguyễn Thị Thu T đang đứng dựa lưng vào xe máy hiệu Honda Lead, mặt quay vào hướng tiệm tạp hóa để mua hàng và để một ví da màu nâu ở yên xe. Lúc này, C điều khiển xe đến áp sát vị trí chiếc xe của chị T, V lén lút dùm tay lấy trộm ví da rồi C điều khiển xe bỏ chạy về khu vực chung cư V. Tại đây, cả hai kiểm tra bên trong ví thì thấy có số tiền 2.000.000 đồng một điện thoại di dộng hiệu Iphone XS, màu vàng, dung lượng 64GB và một số giấy tờ tùy thân của chị T. Cả hai dùng 2.000.000 đông để mua ma túy sử dụng, ví da, điện thoại di động và các giấy tờ tùy thân của chị T thì C cất giữ trong người.

Qua truy xét cơ quan điều tra đã đưa Nguyễn Quang V, Trần Quốc C về trụ sở làm việc và cả hai đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Tại kết luận định giá tài sản số 500/KL-HĐĐGTA ngày 11/6/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố N, kết luận: 01 điện thoại đi dộng hiệu iphone xs-64GB có giá trị 2.500.000 đồng.

Như vậy, tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Quang V và Trần Quốc C trộm cắp tài sản của bà Nguyễn Thị Thu T là 4.500.000 đồng.

Đồ vật, tài liệu bị thu giữ trong vụ án:

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu vàng, dung lượng 64GB; 01 thẻ ngân hàng T3 mang tên Nguyễn Thị Thu T; 01 thẻ ngân hàng V2 mang tên Nguyễn Thị T1; 01 thẻ ngân hàng A mang tên Nguyễn Thị Thu T; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Thị Thu T; 01 chứng minh dân dân số [...] mang tên Nguyễn Thị Thu T; 01 ví da màu nâu, kích thước 10x20cm trên mặt ví có dòng chữ Elly: đã trả cho chị Nguyễn Thị Thu T
  • 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius màu đen xám, số khung RLCUE3240JY191907, số máy E3Y9E-51787; 01 biển kiểm soát 79V1-144.81 chuyển cơ quan thi hành án dân sự thành phố N.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, có thái độ thành khẩn và ăn năn về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để nhanh chóng về với gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng số 50/CT-VKDNT ngày 11/02/2025 đối với hai bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V từ 01 năm đến 01 năm 60 tháng tù; Bị cáo Trần Quốc C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Vật chứng vụ án: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
    2. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
  2. Về tội danh và khung hình phạt:
  3. Trong quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ cơ sở để kết luận, bị cáo Nguyễn Quang V và bị cáo Trần Quốc C đã chiếm đoạt tài sản của bị hại là bà Nguyễn Thị Thu T với tổng giá trị 4.500.000 đồng.

    Như vậy, Cáo trạng số 51/CT-VKSNT ngày 11/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Quang V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 và truy tố bị cáo Trần Quốc C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

  4. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:
  5. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản đã lén lút chiếm đoạt tài sản của công dân, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân, cũng như gây mất trật tự trị an tại địa phương.

    Bị cáo Nguyễn Quang V là người có nhân thân xấu, từng 02 lần bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc lần lượt vào năm 2019, năm 2022; bị Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh xử 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong vụ án này bị cáo trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại và bị truy tố về tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần Quốc C là người điều khiển xe mô tô chở bị cáo V áp sát bị hại để V thực hiện hành vi trộm cắp tài sản sau đó cùng nhau bỏ chạy. Bị cáo C cũng là người có nhân thân xấu, từng bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng vào năm 2019. Có 02 tiền án, trong đó có một tiền án áp dụng tình tiết “Tái phạm” nay chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên Trần Quốc C bị truy tố về tội trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian.

    Tuy nhiên, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Hội đồng xét xử cũng cần xem xét tình tiết giảm nhẹ vừa nêu giảm cho các bị cáo một phần hình phạt để thể hiện các nguyên tắc nhân đạo, công bằng của chính sách hình sự của Nhà nước.

  6. Về căn cứ quyết định hình phạt:
  7. Mức hình phạt do đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Quang V từ 01 năm đến 1 năm 06 tháng tù và bị cáo Trần Quốc C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

  8. Về hình phạt bổ sung:
  9. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

  10. Về trách nhiệm dân sự:
  11. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường, tại phiên tòa đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  12. Về xử lý vật chứng:
    • Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất nên không xem xét.
    • Trả chiếc xe máy hiệu Yamaha sirius màu đen xám cho bà Huỳnh Thị Kim L1 là chủ sở hữu hợp pháp.
    • Giao cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V 01 biển kiểm soát 79V1-144.81 để xử lý theo quy định của pháp luật.
  13. Về án phí:
  14. Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo Trần Quốc C.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo Nguyễn Quang V.

Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án).

  1. Xử phạt:
    • - Bị cáo Trần Quốc C 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 19/7/2024.
    • - Bị cáo Nguyễn Quang V 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 02/6/2024.
  2. Về xử lý vật chứng:
  3. Trả chiếc xe máy hiệu Yamaha sirius màu đen xám số khung RLCUE3240JY191907, số máy E3X9E517187 (tình trạng xe không bửng nhựa, không kiểm tra chất lượng bên trong) cho bà Huỳnh Thị Kim L1 là chủ sở hữu hợp pháp

    Giao cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện V 01 biển kiểm soát 79V1-144.81 (đã qua sử dụng) xử lý theo quy định của pháp luật.

    (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang).

  4. Về án phí:
  5. Bị cáo Nguyễn Quang V, bị cáo Trần Quốc C mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Quyền kháng cáo:
  7. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND TP. Nha Trang;
  • - CQ CSĐT Công an TP. Nha Trang;
  • - CQ THAHS Công an TP. Nha Trang;
  • - Chi cục THADS TP. Nha Trang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Cát Hoàng Trân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2025/HS-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 80/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang Vinh và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger