Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 80/2025/HS-ST

Ngày 05 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ
  2. Bà Bùi Thị Thúy Lan

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Ngoan, Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm phòng xử án A trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và điểm cầu thành phần phòng hỏi cung Phân trại tạm giam khu vực thành phố D, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 423/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2025/QĐXXST-HS ngày 21/02/2025, đối với các bị cáo:

Nguyễn Dương L, sinh năm 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Số A, đường N, tổ G, khu phố G, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Chăn nuôi; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; con ông Nguyễn Dương T, sinh năm 1956 và bà Tân Thị Kim P, sinh năm 1969; có 03 anh, em ruột, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2007; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04/7/2008, bị Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 05/11/2010, nộp án phí và nộp phạt ngày 04/11/2009; Ngày 21/01/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 02/4/2017, nộp án phí ngày 02/4/2014; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2024 cho đến nay. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn Hoàng K. Vắng mặt.
  2. Huỳnh Văn Đ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Dương L và Nguyễn Hoàng K là bạn bè (K xin ở nhờ phòng trọ của L tại địa chỉ số A, đường C, KDC A, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương). Huỳnh Văn Đ quen biết với L (ở trọ cùng dãy trọ với L). Nguyễn Dương L, Nguyễn Hoàng K và Huỳnh Văn Đ đều nghiện ma túy loại Methamphetamine.

Nguyễn Dương L sử dụng ma túy đá từ đầu năm 2024 đến khi bị bắt. Khoảng 08 giờ ngày 27 tháng 4 năm 2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên L thuê xe ôm đi từ nhà tại địa chỉ số A, đường C, KDC A, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương đến hẻm S, khu vực ngã tư H, quận B (L không nhớ rõ địa chỉ cụ thể) để tìm người mua ma túy đá về sử dụng. Tại đây, L gặp một người nam (không rõ nhân thân, lai lịch), L đưa 200.000 đồng cho người này và kêu mua cho L 200.000 đồng được 01 gói nylon miệng hàn kín, bên trong có chứa ma túy đá. Có được ma túy, L thuê xe ôm về lại nhà của L. Khi về đến nhà, L lấy ma túy đá vừa mua được ra bỏ vào nỏ thủy tinh gắn vào bình thủy tinh rồi cắm ống hút sử dụng 02 hơi (khói), sử dụng xong L cất bình này lại phía sau cái loa trong góc nhà, L đi ra phía trước nhà sửa xe cùng với K và cho gà ăn.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, trong lúc L và K đang ngồi ở trong phòng thì Huỳnh Văn Đ đến và hỏi L có ma túy đá không cho Đ sử dụng với thì L nói có thì Đ đi vào phòng và L lấy cái bình sử dụng ma túy nêu trên (có sẵn ma túy đá trong nỏ thủy tinh) ra để dưới nền nhà. Huỳnh Văn Đ dùng quẹt đốt ma túy đá và sử dụng, bị cáo L và K ngồi chung nhưng K và L không sử dụng ma túy. Sau khi Đ sử dụng ma túy xong, L, Đ, K đang ngồi nói chuyện thì lực lượng Công an vào kiểm tra phát hiện trên nền nhà có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 nỏ thủy tinh bên trong có chứa chất màu nâu (là ma túy đá chưa sử dụng hết), 01 bình thủy tinh, 01 ống hút nhựa, Lực lượng Công an lập biên bản, niêm phong tang vật và mời về trụ sở làm việc.

Quá trình làm việc, bị cáo L còn thừa nhận cung cấp ma túy cho K sử dụng vào lúc 22 giờ 00 ngày 26/4/2024 tại phòng trọ của L địa chỉ số A, đường C, KDC A, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Việc cung cấp ma túy cho K sử dụng cách thức cũng như cung cấp cho Đ sử dụng. Ma túy L cho K sử dụng là do L mua trước đó, không xác định được thời gian mua cụ thể.

- Vật chứng thu giữ:

  • + 01 (một) nỏ thủy tinh bên trong có chất màu nâu.
  • + 01 (một) bình thủy tinh.
  • + 01 ống hút bằng nhựa.

Qua test nhanh thì L, K và Đ đều dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.

Kết luận giám định số: 2137KTHS(MT) ngày C1 Công an tỉnh B xác định: Mẫu chất màu nâu gửi giám định là ma túy Methamphetamine có trọng lượng: M = 0,0199 gam.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Dương L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cáo trạng số 12/CT-VKS-DA ngày 09 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Dương L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo Điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Dương L từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) phong bì được niêm phong ghi số 2137/PC09 bên trong chứa 01 (một) nỏ thủy tinh (chất màu nâu đã phục vụ hết cho giám định); 01 (một) bình thủy tinh; 01 (một) ống hút bằng nhựa cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với Nguyễn Hoàng K, Huỳnh Văn Đ không bàn bạc, không góp tiền, không tham gia chuẩn bị cho việc sử dụng trái phép chất ma túy nên không đồng phạm với Nguyễn Dương L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên không xem xét xử lý về hình sự.

Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của đối tượng Nguyễn Hoàng K, Huỳnh Văn Đ, Công an thành phố D đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với hành vi tàng trữ ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,0199 của Nguyễn Dương L không đủ định lượng cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đối với bà Tân Thị Kim P là mẹ của bị cáo L và là người quản lý nhà trọ, không biết L sử dụng phòng trọ “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên không xem xét xử lý.

Đối với người giúp L mua ma túy (chưa rõ nhân thân, lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ xử lý sau.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, xử lý vật chứng đồng thời bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ lời khai của các bị cáo và chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định:

Tại phòng trọ địa chỉ: Số A, đường C, KDC A, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương của Nguyễn Dương L, L đã cung cấp ma túy cho Nguyễn Hoàng K sử dụng lúc 22 giờ 00 ngày 26/4/2024, cung cấp ma túy cho Huỳnh Vân Đ1 sử dụng lúc 19 giờ 00 ngày 27/4/2024. Như vậy, hành vi của Nguyễn Dương L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại Điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, Cáo trạng số 12/CT - VKS ngày 09 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, để có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tình tiết trên được quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là con nghiện; đã từng bị TAND Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt về tội Mua bán trái phép chất ma túy và TAND thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt về tội Cướp tài sản.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) phong bì được niêm phong ghi số 2137/PC09 bên trong chứa 01 (một) nỏ thủy tinh; 01 (một) bình thủy tinh; 01 (một) ống hút bằng nhựa cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Đối với người giúp L mua ma túy (chưa rõ nhân thân, lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ xử lý sau.

[9] Đối với Nguyễn Hoàng K, Huỳnh Văn Đ không bàn bạc, không góp tiền, không tham gia chuẩn bị cho việc sử dụng trái phép chất ma túy nên không đồng phạm với Nguyễn Dương L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên không xem xét xử lý về hình sự là phù hợp.

[10] Đối với bà Tân Thị Kim P là mẹ của bị cáo L và là người quản lý nhà trọ, không biết L sử dụng phòng trọ “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý là phù hợp.

[11] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng là phù hợp nên chấp nhận.

[12] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Đ2 a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Dương L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng Đ2 a khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Dương L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/4/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì được niêm phong ghi số 2137/PC09 bên ngoài có chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Dương L; chữ ký của cán bộ trả mẫu Đoàn Nguyễn Thiện Q, chữ ký của cán bộ nhận mẫu Lê Khắc C và hình dấu tròn đỏ của phòng KTHS công an tỉnh B, bên trong chứa 01 (một) nỏ thủy tinh theo kết luận giám định số 2137/PC09 ngày 03/5/2024 của phòng KTHS công an tỉnh B.
  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bình thủy tinh.
  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) ống hút bằng nhựa.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Dương L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - VKSND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01);
  • - Phân trại tạm giam khu vực TP. Dĩ An (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Bình Dương (01);
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo (01);
  • - Lưu: VT, HSVA (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Viết Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự

  • Số bản án: 80/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger