|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 80/2025/HS-ST Ngày: 19-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Đăng Vạn
- Ông Nguyễn Văn Phòng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà:
Ông Trần Ngọc Nam – Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 21 tháng 03 năm 2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (chỗ ở): D đường L, khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Trương T, sinh năm: 1976 và bà Phùng Thị T1, sinh năm: 1980; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/12/2024; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Phạm Văn M (sinh năm 1984) (đã chết trong tai nạn)
Hộ khẩu thường trú: xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Ông Phạm Văn S, sinh năm: 1962 (cha đẻ bị hại); vắng mặt.
- Bà Đinh Thị H, sinh năm: 1962 (mẹ đẻ bị hại); vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ E, thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Phạm Bảo K, sinh năm: 2010 (con đẻ bị hại);
- Phạm Bảo A, sinh năm: 2012 (con đẻ bị hại);
Người đại diện theo pháp luật của cháu K và cháu A: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm: 1989, địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Trương T, sinh năm: 1976 (có mặt).
Địa chỉ: D đường L, khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người làm chứng: Chị Nguyễn Bích N, sinh năm: 1994; vắng mặt.
Địa chỉ: E L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19 tháng 05 năm 2024, Nguyễn Thành Đ không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 59X1-964.67, nhãn hiệu Honda, số loại: Winner, màu sơn trắng - đen, dung tích xi lanh 149 cm³ lưu thông trên đường L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng từ cầu L về hướng ngã 3 L. Khi đến gần trụ điện X/LP.T31C, trước nhà số F đường L, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì để xảy ra va chạm với anh Phạm Văn M (sinh năm 1984) đang đi bộ qua đường theo hướng từ trái qua phải theo chiều hướng xe mô tô 59X1-964.67 do Nguyễn Thành Đ điều khiển lưu thông. Hậu quả sau tai nạn: Nguyễn Thành Đ và anh Phạm Văn M bị chấn thương được người dân đưa vào bệnh viện L, thành phố T cấp cứu. Do chấn thương nặng nên anh Phạm Văn M được chuyển tiếp đến bệnh viện C2 - Thành phố Hồ Chí Minh cấp cứu, đến 23 giờ cùng ngày thì tử vong. Nguyễn Thành Đ bị thương tích nặng (Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 478/KLTTCT-TTPY.2024 ngày 17 tháng 09 năm 2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế Thành phố H, kết luận thương tích của bị can Nguyễn Thành Đ là 86%).
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 6132-24/KL-KTHS ngày 17 tháng 06 năm 2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận:
- Nguyên nhân chết: Phạm Văn M chết do chấn thương sọ não;
- Trong máu không tìm thấy cồn, ma túy;
- Trong máu, chứa trong dạ dày có sự hiện diện của C1 (chất kích thích thần kinh trung ương yếu).
Vật chứng của vụ án:
01 chiếc xe mô tô biển số 59X1-964.67, nhãn hiệu Honda, số loại: Winner, màu sơn: Trắng đen, dung tích xi lanh 149 cm³ là của Nguyễn Thành Đ. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho Nguyễn Thành Đ.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Trương T là cha ruột của Nguyễn Thành Đ hỗ trợ cho gia đình bị hại Phạm Văn M số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Đại diện gia đình nạn nhân, ông Phạm Văn S là cha ruột bị hại đồng ý nhận số tiền này và tự nguyện làm đơn bãi nại, cam kết không khiếu nại thắc mắc về sau đối với vụ tai nạn giao thông trên.
Cáo trạng số 67/CT-VKSTPTĐ ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị Nguyễn Thành Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; bị cáo là dân quân thường trực của phường L, thành phố T, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L 02 lần tặng Giấy khen do đã tích cực tham gia công tác trong phòng, chống dịch Covid 19 trên địa bàn thánh phố T (Giấy khen ngày 06/8/2021 và Giấy khen 01/11/2021); phạm tội lần đầu; nguyên nhân dẫn đến tai nạn có một phần lỗi của bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 và đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ với mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã xử lý xong; bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ ăn năn, hối cải và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trương T trình bày: Ông là cha đẻ của bị cáo Đ, sau khi ông ly hôn với vợ thì Đ sống với mẹ nhưng sau đó Đ đã thuê nhà đi ở trọ một mình. Sau tai nạn, Được bị thương nặng và có báo cho ông để nhờ ông hỗ trợ chi phí chữa trị vết thương cho Đ và bồi thường cho gia đình bị hại. Do Đ cũng không có đủ tiền nên ông đã bỏ ra số tiền 100.000.000 đồng để hỗ trợ cho gia đình bị hại và chi phí chữa trị vết thương cho Được. Nay ông không có yêu cầu Được phải trả lại ông số tiền trên và mong Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của Đ để giảm nhẹ hình phạt cho Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tư cách đương sự: Qua xác minh, xác định cha mẹ của bị hại là ông Phạm Văn S và bà Đinh Thị H; bị hại đã ly hôn vợ là chị Nguyễn Thị C, theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 100/2022/QĐST-HNGĐ ngày 05/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; bị hại và chị C có 02 người con chung là Phạm Bảo K, sinh năm: 2010 và Phạm Bảo A, sinh năm: 2012, Do đó, Tòa án triệu tập ông Phạm Văn S và bà Đinh Thị H, chị Nguyễn Thị C (người đại diện
theo pháp luật của cháu K và cháu A) tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp của bị hại.
Về thủ tục tố tụng: Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc vắng mặt của người đại diện hợp pháp của bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và quyền lợi của họ nên Tòa án vẫn tiến hành mở phiên tòa vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thành Đ tại phiên tòa phù hợp với nội dung: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông; Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; Kết luận giám định tử thi số 6132-24/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H; Kết luận giám định số 3764/KL-KTHS ngày 26/7/2024 của Phân viện khoa học Hình sự Bộ C3; Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 478/KLTTCT-TTPY.2024 ngày 17/9/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế Thành phố H, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19 tháng 05 năm 2024, Nguyễn Thành Đ điều khiển xe mô tô biển số 59X1-964.67 trên đường L, khi Được đi đến gần trụ điện X/LP.T31C, trước nhà số F đường L, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, do không chú ý quan sát nên để xảy ra va chạm với anh Phạm Văn M đang đi bộ qua đường. Hậu quả, anh M bị thương nặng và tử vong tại Bệnh viện. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thành Đ đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội danh và Điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất của vụ án:
Bị cáo Nguyễn Thành Đ điều khiển xe mô tô 02 bánh, dung tích xi lanh 149 cm³ khi chưa có giấy phép lái xe là vi phạm quy định tại khoản 9 và khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008, Văn bản hợp nhất Luật giao thông đường bộ số 15/VBHN-VPQH ngày 05/7/2019 của Văn phòng Q. Bị cáo biết rõ những nguy hiểm có thể xảy ra khi không tuân thủ nghiêm các quy định của Luật giao thông đường bộ. Nhưng vì chủ quan, ý thức tôn trọng tính mạng, sức khỏe và tài sản của người tham gia giao thông khác kém nên bị cáo đã gây ra tai nạn. Hành vi không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về an toàn giao thông đường bộ dẫn đến tai nạn làm chết một người do bị cáo Nguyễn Thành Đ thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến hệ thống các quy định về đảm bảo an toàn giao thông đường bộ và an toàn tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Đ hoàn toàn có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi vô ý vì cẩu thả. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, cũng xét: Sau tai nạn, bị cáo đã tác động gia đình hỗ trợ bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng, gia đình của bị hại đã có Đơn bãi nại xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và cam kết không yêu cầu bồi thường hay khiếu nại gì về sau; bản thân bị cáo luôn có thái độ thành khẩn khai báo trong suốt quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa; bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã nhận định nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nằm trong khung hình phạt liền kề đối với bị cáo.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Như đã nhận định ở phần [4], bị cáo đã nhờ gia đình hỗ trợ bồi thường số tiền 100.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại. Người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại không yêu cầu bồi thường dân sự gì thêm và xin miễn trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Thành Đ nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm về trách nhiệm dân sự trong vụ án này.
Ông Nguyễn Trương T là cha của bị cáo, đã đứng ra bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:
- 01 xe mô tô biển số 59X1-964.67, nhãn hiệu Honda, số loại: Winner, màu sơn trắng - đen, dung tích xi lanh 149 cm³ do Nguyễn Thành Đ đứng tên chủ sở hữu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra quyết định trả lại xe mô tô trên cho Nguyễn Thành Đ nên hội đồng xét xử không xem xét thêm (Bút lục161).
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:
Buộc bị cáo Nguyễn Thành Đ phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án. Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Thị Nguyệt |
Bản án số 80/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 80/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hình phạt tù
