Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẦM HÀ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HNGĐ-ST

Ngày 29-11-2024

“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi

con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Tuấn Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Bà Nông Thị Hồng
  • - Ông Lương Văn Sinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hà – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Đức Hạnh Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Hà Ngọc H, sinh năm: 1996.
  2. Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh.

    Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  3. Bị đơn: Anh Đinh Văn H1, sinh năm: 1993.
  4. ĐKHK: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh.

    Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q.

    Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/10/2024 và tại bản tự khai nguyên đơn Hà Ngọc H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Đinh Văn H1 kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2015 tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Trước khi kết hôn chị và anh H1 chưa ai có vợ có chồng. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tình cảm hòa thuận đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau. Chị và anh H1 đã sống ly thân với nhau từ năm 2017 đến nay và không ai còn quan tâm đến nhau. Hiện nay, anh H1 đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q để chờ đi thi hành án phạt tù do vi phạm pháp luật.

Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, đoàn tụ được nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chị và anh H1 có 01 con chung là Đinh Thiên H2 sinh ngày 19/01/2016. Khi ly hôn, chị H có quan điểm, chị sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đinh Thiên H2 đến khi thành niên. Việc cấp dưỡng nuôi con chung và không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị H không không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/11/2024 bị đơn Đinh Văn H1 trình bày:

Về tình cảm: Anh và chị H được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh năm 2015. Sau khi kết hôn vợ chồng anh về chung sống tình cảm hòa thuận đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do không hòa thuận trong cuộc sống, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi chửi nhau, bất đồng quan điểm sống. Từ năm 2017, anh và chị H đã sống ly thân, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa.

Đến nay, chị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1, anh H1 đồng ý.

Về con chung: Trong quá trình chung sống anh và chị H có 01 con chung là cháu Đinh Thiên H2 sinh ngày 19/01/2016. Khi ly hôn, anh H1 có quan điểm: đồng ý để chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu do anh hiện đang đi thi hành án không có điều kiện trực tiếp chăm sóc Đinh Thiên H2 đến khi thành niên do anh đang bị tạm giam để chờ đi chấp hành án phạt tù dài hạn không có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung.

Về tài sản chung: Anh H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai của cháu Đinh Thiên H2 là con chung của chị H và anh H1 ngày 04/11/2024 thể hiện: “Nếu bố mẹ cháu ly hôn, nguyện vọng của cháu H2 muốn được ở với bố”.

Tại phiên tòa:

Chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có quan điểm thể hiện: Về tình cảm chị vẫn đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh H1. Về con chung, tài sản chung, công nợ, chị H vẫn giữ nguyện vọng như đã trình bày. Ngoài ra, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nào khác.

Anh H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có quan điểm thể hiện: Về tình cảm anh H1 đồng ý ly hôn với chị H. Về con chung, tài sản chung, công nợ, anh H1 vẫn giữ nguyện vọng như đã trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 08/11/2024. Ngoài ra anh không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nào khác.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà phát biểu quan điểm như sau:

  • + Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc thụ lý vụ án, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, công khai chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng, chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát đúng quy định, đảm bảo thời hạn xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện và xét xử theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • + Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hà Ngọc H về việc: “Ly hôn, tranh chấp về con chung khi ly hôn” với anh Đinh Văn H1.
    • + Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Ngọc H được ly hôn anh Đinh Văn H1.
    • + Về con chung: Giao Đinh Thiên H2, sinh ngày 19/01/2016 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền được thăm nom con chung, không ai được cản trở.
    • + Về tài sản chung và nợ chung các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề cập.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra tại phiên Tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Tại Đơn xin ly hôn thể hiện bị đơn – anh Đinh Văn H1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà thụ lý và giải quyết vụ án hôn nhân gia đình trên là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà đã Thông báo các đương sự đến để hòa giải; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đã tống đạt hợp lệ cho các đương sự theo quy định của pháp luật, nhưng anh H1 không có mặt do đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q để chờ đi chấp hành án phạt tù. Anh H1 có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, vì vậy Tòa án không không tiến hành hòa giải được vụ án hôn nhân và gia đình.

Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn: Chị H và anh H1 đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trong đơn đề nghị cả hai anh chị đã nêu rõ quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị H và anh H1 là phù hợp.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Hà Ngọc H và anh Đinh Văn H1 kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 20/7/2015 tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Đây là hôn nhân hợp pháp. Xét tình trạng hôn nhân của chị H và anh H1: Chị H trình bày quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không chia sẻ được với nhau, thường xuyên cãi chửi, mâu thuẫn xảy ra đã lâu, kéo dài không giải quyết được. Từ năm 2017 mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, căng thẳng hơn nên chị H và anh H1 đã sống ly thân, không có sự quan tâm đến nhau từ đó cho đến nay. Đồng thời, hiện nay anh H1 đang bị tạm giam để chờ đi chấp hành án phạt tù dài hạn, do đó, chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh H1 và anh H1 cũng đồng ý với đề nghị xin ly hôn của chị H.

Anh H1 có lời khai phù hợp với lời khai của chị H về nguyên nhân mâu thuẫn, về việc hai vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 và không ai còn quan tâm đến ai.

Từ những phân tích nêu trên có thể kết luận cuộc sống chung giữa vợ chồng chị H, anh H1 là căng thẳng, mâu thuẫn đã trầm trọng không giải quyết khắc phục được, cuộc sống chung không thể kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân, vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, không thực hiện các nghĩa vụ tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung:

Trong quá trình chung sống chị H và anh H1 có 01 con chung là Đinh Thiên H2, sinh ngày 19/01/2016. Nay ly hôn, chị H có quan điểm, chị là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu là Đinh Thiên H2 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi), không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con. Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/11/2024, anh H1 có quan điểm, anh đồng ý chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu là Đinh Thiên H2 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi) và anh H1 cấp dưỡng nuôi con do anh đang đi thi hành án. Từ các phân tích trên Hội đồng xét xử thấy giao cháu H2 cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung: Cả hai đương sự đều trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết do vậy Hội đồng xét xử không đề cập.

[5] Về nợ chung: Cả hai đương sự đều trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết do vậy Hội đồng xét xử không đề cập.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Chị H và anh H1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7] Đối với ý kiến của kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 19; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí của Uỷ ban thường vụ quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Ngọc H. Chị Hà Ngọc H được ly hôn anh Đinh Văn H1.
  2. Về con chung: Giao cháu Đinh Thiên H2 sinh ngày 19/01/2016 cho chị Hà Ngọc H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Đinh Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Đinh Văn H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung: Chị Hà Ngọc H và anh Đinh Văn H1 không yêu cầu giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không đề cập.
  4. Về nợ chung: Chị Hà Ngọc H và anh Đinh Văn H1 không yêu cầu giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không đề cập.
  5. Về án phí: Chị Hà Ngọc H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị Hà Ngọc H đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền số 0004619 ngày 14/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị Hà Ngọc H và anh Đinh Văn H1. Chị Hà Ngọc H và anh Đinh Văn H1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Đầm Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Đầm Hà;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND xã Tân Lập, huyện Đầm Hà;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vũ Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 08/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger