Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM TRỰC

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/HS-ST

Ngày: 28/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hinh

Ông Lê Trung Thành

-Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Minh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Nam Trực.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Tình – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định mở phiên toà sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 76/2024/HSST ngày 11 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/HSST- QĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn N; sinh năm: 1987; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT, nơi ở: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không. Con ông Phạm Văn M, đã chết; Con bà: Trần Thị C, sinh năm: 1955. Có vợ là Nguyễn Thị D, sinh năm: 1987. Bị cáo có 02 con, con lớn, sinh năm 2014; con nhỏ, sinh năm 2015.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 19/10/2023, bị Toà án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định ra Quyết định số 23 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng (Chưa thi hành quyết định).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/9/2024 đến ngày 26/9/2024 chuyển tạm giam, đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 20/9/2024, bị cáo đi bộ từ nhà đến khu vực đường L, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định với mục đích mua H về sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi bị cáo gặp và mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được gói Heroine, bị cáo cầm trên lòng bàn tay phải rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày N đi bộ đến khu vực Nghĩa trang N1 thôn E xã N, huyện N, tỉnh Nam Định thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt người phạm tội quả tang và thu giữ trên tay phải của bị cáo có 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất rắn dạng bột màu trắng, bị cáo khai nhận là Heroine mua về để sử dụng. Ngoài ra lực lượng Công an còn thu giữ tại túi áo ngực bên phải của bị cáo 01 bơm kim tiêm loại 03 ml. Sau đó lực lượng Công an đã mời người chứng kiến, niêm phong 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất rắn dạng bột màu trắng ký hiệu là M và đưa bị cáo về trụ sở Công an xã N để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Cùng ngày, Công an xã N đã bàn giao hồ sơ, vật chứng cùng bị cáo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận giám định số 1637/KL-KTHS ngày 25/9/2024 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma tuý. Loại ma tuý Heroine. Khối lượng mẫu M: 0,180 gam

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số: 80/CT-VKS ngày 08/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Phạm Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Phạm Văn N từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm 03 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy được đựng trong phong bì thư của Phòng K Công an tỉnh N và 01 bơm kim tiêm loại 03 ml.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 20/9/2024; Biên bản khám xét ngày 20/9/2024; Bản kết luận giám định số 1637/KL-KTHS ngày 25/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh N; Biên bản ghi lời khai người chứng kiến bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Song H1... Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20/9/2024, tại khu vực Nghĩa trang N1 thôn E, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 0,180 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

[4] Về hình phạt: Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy là vật mà Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy. 01 bơm kim tiêm loại 03 ml không có giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.

[7] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có căn cứ để điều tra, xử lý là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
    • - Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • - Xử phạt Phạm Văn N 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn được tính kể từ ngày 20/9/2024.
  2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy được đựng trong phong bì thư số 1637/KL-KTHS của Phòng K, Công an tỉnh N và 01 bơm kim tiêm loại 03 ml có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/11/2024 giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực.
  3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Phạm Văn N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Toà án nhân dân tỉnh;
  • - VKS nhân dân huyện Nam Trực;
  • - Công an huyện Nam Trực;
  • - Chi cục THADS huyện Nam Trực;
  • - UBND xã T, H. T;
  • - Lưu hồ sơ + VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Mạnh Cường

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 80/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger