|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀNG HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 80/2024/HS-ST Ngày 28/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Hải
Ông Nguyễn Hoành Đại
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Hằng – Thư ký TAND huyện Hoằng Hóa.
- Đại diện VKSND huyện Hoằng Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Khắc S, sinh ngày 26 tháng 11 năm 1992, tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số định danh cá nhân: 038092017786; Con ông Lê Khắc C và bà Lê Thị Q; Có vợ là Lê Thị Q1 và có 02 con: lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Phạm Thị M, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Người làm chứng: Chị Vũ Thị H1, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 30 phút sáng ngày 22/6/2024, Lê Khắc S đi bộ từ nhà đến nhà chị Phạm Thị M, trèo qua tường rào vào bên trong sân và đi bộ ra phía cửa sau bếp, kéo cửa đi thẳng vào khu vực cửa hàng tạp hóa của chị M. Thấy ba mẹ con chị M đang nằm ngủ ở trên giường, có một hộp nhựa màu trắng để trên kệ hàng tạp hóa cạnh chỗ chị M nằm ngủ nên S lấy hộp nhựa này đi ra khu vực bếp mở nắp hộp nhựa ra kiểm tra nhưng không thấy tài sản bên trong nên S cầm hộp nhựa đặt lên kệ hàng tạp hóa. S thấy ở bên phải đầu chị M có để một ví da màu đỏ (dài 23,8 cm, rộng 13,5 cm; có quai đeo bằng dây kim loại màu vàng dạng mắt xích nối liền với nhau). S cầm ví da đi xuống bên cạnh khu vực bàn để bếp gas đứng kiểm tra và thấy bên trong ví có tiền, thẻ cào điện thoại và các loại giấy tờ tùy thân của chị M, S cầm cái ví đó đi ra ngoài sân rồi kéo cửa phía sau bếp lại, mở ví và lấy tiền bỏ vào túi quần phía trước bên phải, thẻ cào điện thoại bỏ vào túi quần phía trước bên trái. Sau khi lấy tiền và thẻ điện thoại bên trong ví, S để lại giấy tờ tùy thân vào trong ví và cầm ví vứt ra phía sau căn nhà sau cửa hàng tạp hóa của chị M rồi trèo qua tường rào đi bộ về nhà. Về đến nhà, S vào nhà vệ sinh lấy tiền ra đếm được 7.400.000đ, gồm: 09 tờ tiền mệnh giá 500.000đ, 02 tờ tiền mệnh giá 200.000đ, 11 tờ tiền mệnh giá 100.000đ, 28 tờ tiền mệnh giá 50.000đ. Ngoài ra còn có: 08 thẻ cào điện thoại V mệnh giá 100.000đ, 15 thẻ cào điện thoại V mệnh giá 50.000đ, 24 thẻ cào điện thoại V mệnh giá 20.000đ và 02 thẻ cào điện thoại Mobifone mệnh giá 50.000đ. Lê Khắc S lấy 02 thẻ cào điện thoại Mobifone mệnh giá 50.000đ nạp vào sim điện thoại (S không nhớ rõ số sim do dùng sim rác) trong chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280. Thẻ cào điện thoại sau khi nạp S bỏ luôn vào cùng với các thẻ cào điên thoại khác. Sau đó S lấy 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng; 12 thẻ cào V gồm 04 thẻ cào mệnh giá 50.000 đồng, 08 thẻ cào mệnh giá 100.000 đồng và chiếc điện thoại N 1280 bỏ vào túi quần, số tiền và thẻ cào điện thoại còn lại mang lên phòng ngủ cất vào bên trong gối của S và gối của con gái S (tiền cất vào gối màu đỏ của S, thẻ cào điện thoại cất vào gối màu xanh lá cây của con gái S). S mang số tiền 2.000.000 đồng cùng 12 thẻ cào điện thoại V đi chơi. Quá trình đi chơi, S có tiêu xài cá nhân hết 500.000 đồng, S chưa nạp các thẻ cào trong túi. Do móc điện thoại trong túi quần ra vào nhiều lần nên S không rõ đã đánh rơi thẻ cào điện thoại và chiếc điện thoại N 1280 lúc nào và rơi ở đâu. Khoảng hơn 04 giờ ngày 22/6/2024, S về nhà nằm ngủ. Đến khoảng hơn 13 giờ ngày 22/6/2024, Lê Khắc S biết chị M đã trình báo Cơ quan Công an xã H về việc bị mất trộm tài sản và biết nhà chị M có camera an ninh nên S đã đến Công an xã H đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và giao nộp số tiền 1.500.000đ trong túi quần của mình.
Tiến hành khám xét khẩn cấp tại gia đình Lê Khắc S, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H thu giữ:
Tổng số tiền là 5.400.000đ, bao gồm: 05 tờ tiền mệnh giá 500.000đ, 02 tờ tiền mệnh giá 200.000đ, 11 tờ tiền mệnh giá 100.000đ, 28 tờ tiền mệnh giá 50.000đ tại vị trí dưới gối màu đỏ ở đầu giường tại phòng ngủ tầng 2.
Thu giữ tại vị trí trong gối màu xanh lá cây của con gái S: 02 thẻ cào điện thoại loại Mobifone mệnh giá 50.000 đồng đã bị cào lớp nhũ bạc, 20 thẻ cào điện thoại loại V mệnh giá 20.000 đồng chưa bị cào lớp nhũ bạc, 11 thẻ cào điện thoại loại V mệnh giá 50.000 đồng chưa bị cào lớp nhũ bạc và 01 áo phông cổ tròn màu xám tro có họa tiết chữ B màu trắng, áo cũ đã qua sử dụng; 01 quần đùi màu xám tro có họa tiết chữ B màu trắng, quần cũ đã qua sử dụng, đây là quần áo của Lê Khắc S sử dụng khi trộm cắp tài sản của chị M.
Ngày 22/6/2024, chị Vũ Thị H1 là hàng xóm của chị Phạm Thị M khai báo có nhặt được và giao nộp cho Công an xã H: 01 ví da màu đỏ dài 23,8 cm, rộng 13,5 cm; có quai đeo bằng dây kim loại màu vàng dạng mắt xích, ví cũ đã qua sử dụng bên trong có 01 căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Thị M; 01 thẻ ngân hàng A số 9704 0510 7241 9107 mang tên Phạm Thị M; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 36N1-08283, xe máy số 002631.
Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 12/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện H kết luận: giá trị tài sản của 01 ví da màu đỏ dài 23,8 cm, rộng 13,5 cm; có quai đeo bằng dây kim loại màu vàng dạng mắt xích, ví cũ đã qua sử dụng là 50.000đ. Sau khi định giá, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Phạm Thị M.
Ngày 08/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 1004/QĐ-ĐCSHS đối với 01 đĩa DVD chứa đựng dữ liệu hình ảnh camara có bị chỉnh sửa, cắt ghép hay không. Tại Bản Kết luận giám định số 4292KL-KTHS ngày 12/10/2024 của Phòng K, Công an tỉnh T kết luận: “Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 (một) tệp video của 01(một) đĩa DVD gửi giám định. Trích xuất một số hình ảnh trong tệp video gửi giám định - Thể hiện trong phụ lục”.
Vật chứng của vụ án:
Số tiền 6.900.000đ (sáu triệu chín trăm nghìn đồng), và tổng số thẻ gồm: 02 thẻ cào điện thoại loại Mobifone mệnh giá 50.000 đồng đã bị cào lớp nhũ bạc, 20 thẻ cào điện thoại loại V mệnh giá 20.000 đồng chưa bị cào lớp nhũ bạc; 11 thẻ cào điện thoại loại V mệnh giá 50.000 đồng chưa bị cào lớp nhũ bạc và 01 áo phông cổ tròn màu xám tro có họa tiết chữ B màu trắng đã qua sử dụng; 01 quần đùi màu xám tro có họa tiết chữ B màu trắng đã qua sử dụng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa.
Về trách nhiệm dân sự: Lê Khắc S đã bồi thường cho bị hại là chị Phạm Thị M số tiền 12.000.000đ, chị M không có yêu cầu gì thêm.
Bản cáo trạng số 93/CTr-VKSHH ngày 13/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa truy tố bị cáo Lê Khắc Sơn về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Khắc S đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Khắc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng tình từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đề nghị không phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: bị hại không có yêu cầu gì nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị hại: số tiền 6.900.000đ, các thẻ cào điện thoại chưa bị cào lớp nhũ bạc gồm: 20 thẻ cào điện thoại loại V mệnh giá 20.000 đồng, 11 thẻ cào điện thoại loại Viettel mệnh giá 50.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy: 02 thẻ cào điện thoại loại Mobifone mệnh giá 50.000 đồng đã bị cào lớp nhũ bạc, 01 áo phông cổ tròn màu xám tro có họa tiết chữ B màu trắng và 01 quần đùi màu xám tro có họa tiết chữ B màu trắng.
Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại không có tranh luận gì. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và tội danh: Xuất phát từ mục đích, động cơ vụ lợi, để có tiền tiêu xài cá nhân, Lê Khắc S đã đột nhập vào nhà chị Phạm Thị M, trộm cắp 01 (một) ví da màu đỏ, bên trong có tổng số tiền 7.400.000₫ và 45 thẻ cào điện thoại mệnh giá từ 20.000đ đến 100.000đ. Tổng trị giá tài sản mà S đã trộm cắp là 9.500.000đ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3]. Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự :
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, bị cáo đã ra đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Bị cáo có nhân thân trong sạch, ngoài lần phạm tội này, luôn chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự nên đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 được sửa đổi bổ sung tại Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022. Vì vậy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục và để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Phạm Thị M đã nhận được bồi thường từ bị cáo và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về vật chứng của vụ án:
Số tiền 6.900.000đ, các thẻ cào điện thoại chưa bị cào lớp nhũ bạc gồm: 20 thẻ cào điện thoại loại V mệnh giá 20.000 đồng, 11 thẻ cào điện thoại loại V mệnh giá 50.000 đồng là tài sản Lê Khắc S đã trộm cắp từ chị M, tại phiên tòa, bị cáo đề nghị hội đồng xét xử trả lại cho chị M, xét thấy đề nghị của bị cáo là phù hợp nên cần trả lại cho chị Lê Thị M1. 02 thẻ cào điện thoại loại Mobifone mệnh giá 50.000 đồng đã bị cào lớp nhũ bạc – không còn giá trị sử dụng, 01 áo phông cổ tròn màu xám tro có họa tiết chữ B màu trắng và 01 quần đùi màu xám tro có họa tiết chữ B màu trắng là tài sản của bị cáo, không còn giá trị sử dụng, bị cáo đề nghị tịch thu tiêu hủy là phù hợp nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106, Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án
Tuyên bố: Bị cáo Lê Khắc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử: Phạt bị cáo Lê Khắc S 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Lê Khắc S cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa để giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong quá trình giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng: Trả lại cho chị Phạm Thị M số tiền 6.900.000₫ (Sáu triệu chín trăm nghìn đồng), các thẻ cào điện thoại chưa bị cào lớp nhũ bạc gồm: 20 (hai mươi) thẻ cào điện thoại loại V mệnh giá 20.000đ, 11 (mười một) thẻ cào điện thoại loại V mệnh giá 50.000đ. Tịch thu tiêu hủy: 02 thẻ cào điện thoại loại Mobifone mệnh giá 50.000 đồng đã bị cào lớp nhũ bạc, 01 (một) áo phông cổ tròn màu xám tro có họa tiết chữ B màu trắng, 01 (một) quần đùi màu xám tro có họa tiết chữ B màu trắng. Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 13/BBGN ngày 28/11/2024 và theo Ủy nhiệm chi lập ngày 26/11/2024 của Công an huyện H, số tài khoản 3949.0.1053935 tại Kho bạc Nhà nước huyện H.
Về án phí: Buộc bị cáo Lê Khắc S phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại chị Phạm Thị M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc Vân |
Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 80/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Khắc S bị truy tố, xét xử về tội Trộm cắp tài sản
