Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM ĐỘNG

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/HS-ST

Ngày: 05/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Duy Trĩnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quang Nguyên và bà Nguyễn Thị Huế.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên: Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 05/11/2024, tại Nhà văn hóa xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 81/2024/TLST-HS ngày 14/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-HS ngày 24/10/2024 đối với các bị cáo:

  1. Sa Văn S, sinh năm 1990; giới tính: nam; tên gọi khác: không có. Nơi thường trú: Thôn B, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái; Nơi ở hiện nay: Số nhà A đường L, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Sa Văn B (đã chết) và bà Hà Thị S1, sinh năm: 1961. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 3; Vợ, con: chưa có.

    - Tiền án; tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/8/2024, chuyển tạm giam từ ngày 01/9/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

  2. Đinh Công Quang T, sinh năm 1999; giới tính: nam; tên gọi khác: không có; Nơi thường trú: Thôn B, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái; Nơi ở hiện nay: Đường T, tổ dân phố B, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đinh Công Đ, sinh năm: 1975 và bà Lý Thị H, sinh năm: 1981; Vợ, con: chưa có.

    - Tiền án; Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm bắt giữ từ ngày 21/5/2024, chuyển tạm giam ngày 24/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  • * Người bào chữa cho bị cáo Sa Văn S và Đinh Công Quang T: Bà Phạm Thị T1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. Vắng mặt do đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    Ông Trần Văn Y, sinh năm 1980 (Vắng mặt).

    Trú tại: Tổ dân phố B, phường T, thành phố P, Hà Nam.

  • * Người làm chứng: Ông Nguyễn Trọng T2, sinh năm 1964 (vắng mặt).

    Trú tại: Thôn D, xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ, ngày 20/5/2024, Tổ công tác của Công an huyện K phối hợp cùng với Phòng Cảnh sát cơ động - Công an tỉnh H tuần tra trên khu vực đoạn đường nối cao tốc Hà Nội - Hải Phòng thuộc địa phận thôn D, xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên, phát hiện Sa Văn S, sinh năm 1990 (Nơi thường trú: thôn B, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái; nơi ở hiện tại: Số nhà A đường L, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam) và Đinh Công Quang T, sinh năm 1999 (Nơi thường trú: thôn B, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái; nơi ở hiện tại: Đường T, B, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam), có biểu hiện nghi vấn. Quá trình kiểm tra, S tự lấy trong túi quần bên trái đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 gói giấy bạc có chứa chất bột kết tinh màu trắng đục. S và T đều khai nhận là ma túy vừa mua được để về sử dụng. Tổ công tác tiến hành niêm phong vỏ bao thuốc lá có gói giấy bạc chứa ma túy nêu trên theo quy định pháp luật.

Quá trình điều tra S, T khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 21 giờ, ngày 20/5/2024, S rủ T đi mua ma túy ở khu vực thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương, T đồng ý. S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 90B1-752.31 của T chở T đi (xe này T mượn của cha dượng là ông Trần Văn Y, sinh năm 1980 ở TDP B, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam để làm phương tiện đi lại). S và T thống nhất mỗi người góp một nửa số tiền để mua ma túy nhưng do T chưa có tiền nên S ứng ra trước. Khi đến thị trấn K thì gặp một người đàn ông không biết họ tên, địa chỉ, qua nói chuyện thì S biết người này có bán ma túy H1 nên S hỏi và mua của người này 200.000 đồng ma túy H1, người này cầm tiền và đưa cho S 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 gói giấy bạc có chứa chất bột kết tinh màu trắng đục, S kiểm tra thấy đúng là ma túy Heroine thì gói lại, cất vào túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi đi về Hà Nam để sử dụng. Sau đó, S điều khiển xe mô tô chở T đi đến đường nối cao tốc thuộc địa phận thôn D, xã C, huyện K thì bị Công an kiểm tra phát hiện, S đã tự lấy từ túi quần bên trái phía trước ra 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có gói giấy bạc chứa ma túy giao nộp, đồng thời T giao nộp 02 điện thoại di động (01 điện thoại Sam Sung màu xanh của T và 01 điện thoại Iphone 11 màu xanh của S do S nhờ T cầm hộ). Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, Sa Văn S đã bỏ trốn. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K ra quyết định truy nã đối với S. Đến ngày 29/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã bắt được S tại khu phố C, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh và thu giữ của S 01 điện thoại di động Oppo.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Sa Văn S tại số nhà A, đường L, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam và nơi ở của Đinh Công Quang T tại Đường T, TDP B, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam, có 01 căn cước công dân mang tên Sa Văn S và 01 căn cước công dân mang tên Đinh Công Quang T. Cơ quan điều tra đã quản lý bản sao 02 căn cước công dân nêu trên. Ngoài ra không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại Kết luận giám định số 367/KL-KTHS(MT) ngày 24/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong gửi giám định, có khối lượng là 0,199 gam là ma túy, loại Heroine (H).

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho S, T, do S và T đều khai không biết họ tên, địa chỉ của người này. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Về vật chứng, đã nhập kho vật chứng thuộc Công an huyện K gồm: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 367/KL-KTHS (MT) bên trong có 0,191 gam ma túy loại Heroine; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L; mảnh giấy bạc gói ma túy; 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 điện thoại di động SamSung màu xanh của T, 01 điện thoại di động Iphone 11 màu xanh và 01 điện thoại di dộng Oppo màu đen của S.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 90B1-752.31 là của ông Trần Văn Y, sinh năm 1980 ở TDP B, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam, cho T mượn nhưng không biết T sử dụng làm phương tiện phạm tội. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại ông Y.

Cáo trạng số 82/CT-VKSKĐ ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã truy tố Sa Văn S và Đinh Công Q T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu nhưng trình bày quanh co về hành vi của mình. Khi nghe công bố lời khai, bản tường trình, các bị cáo thừa nhận hành vi như đã khai báo tại cơ quan điều tra. Trường hợp trả lại vật chứng, bị cáo T đề nghị người nhận thay là bà Lý Thị H, mẹ bị cáo; bị cáo S đề nghị người nhận thay là chị Sa Thị C, sinh năm 1984, hiện trú tại thôn B, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái. Bà H và chị C nhất trí nhận thay cho các bị cáo. Lời nói sau cùng các bị cáo an năn hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và hòa nhập cộng đồng.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo: Việc truy tố, xét xử các bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật. Đề nghị xem xét điều kiện, hoàn cảnh để áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị không áp dụng hình phạt tiền và miễn án phí cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động trình bày bản luận tội giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Sa Văn S và Đinh Công Quang T; Xử phạt bị cáo Sa Văn S từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29/8/2024; xử phạt bị cáo Đinh Công Quang T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21/5/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong là mẫu vật hoàn lại sau giám định; trả lại 01 điện thoại di động Samsung màu xanh cho bị cáo T; trả lại 01 điện thoại di động Iphone 11 màu xanh và 01 điện thoại di động Oppo màu đen cho bị cáo S.

Đối với quan điểm của người bào chữa, về việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo với lý do gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn không có căn cứ nên không được chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, việc giao nộp và thu thập tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Căn cứ lời khai của các bị cáo, của người làm chứng, cùng các chứng cứ, tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ, ngày 20/5/2024, tại thôn D, xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên, Sa Văn S và Đinh Công Quang T đã tàng trữ trái phép 0,199 gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

    Hành vi của các bị cáo Sa Văn S và Đinh Công Quang T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

    Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã truy tố Sa Văn S và Đinh Công Quang T theo tội danh và điều luật áp dụng trong Cáo trạng số 82/CT - VKSKĐ ngày 14/10/2024 là hoàn toàn có căn cứ, chính xác, đúng người, đúng tội.

  3. Về nhân thân: Các bị cáo lần đầu phạm tội nhưng là người nghiện ma túy.
  4. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  5. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

    Đối với quan điểm của Người bào chữa, về việc đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn để cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

    Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy; gây mất trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và một số tội phạm khác, chỉ vì muốn đáp ứng nhu cầu sử dụng ma tuý của mình, các bị cáo đã coi thường kỷ cương, bất chấp pháp luật thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, nên cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội.

    Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, với đặc điểm nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo như đã phân tích ở trên, cần thiết phải cho cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mục đích để trừng trị kẻ phạm tội và để các bị cáo có thời gian học tập, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội.

    Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, không có sự phân công nhiệm vụ cụ thể. S là người rủ T, ứng tiền ra trước, điều khiển xe mô tô chở T đi và trực tiếp mua ma túy nên giữ vị trí, vai trò thứ nhất; T giữ vai trò, vị trí thứ hai. Quá trình điều tra bị cáo S bỏ trốn dẫn đến phải truy nã, điều đó thể hiện S không có ý thức chấp hành pháp luật, gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó khi xem xét hình phạt đối với các bị cáo, HĐXX xem xét đến đặc điểm nhân thân, vị trí, vai trò, mức độ nghiêm trọng của từng bị cáo trong vụ án để đưa ra mức hình phạt tưng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện.

  6. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng không phải vì vụ lợi. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  7. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a; c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

    Đối với 01 phong bì niêm phong hoãn mẫu vật giám định số 367/KL-KTHS (MT), bên trong có 0,191g ma tuý loại Heroin; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L; mảnh giấy bạc gói ma tuý; 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị nên cần tịch thu, cho tiêu hủy.

    Đối với 01 điện thoại di động Samsung màu xanh thu giữ của bị cáo T và 01 điện thoại di động Iphone 11 màu xanh và 01 điện thoại di động Oppo màu đen thu giữ của bị cáo S, quá trình điều tra xác định các bị cáo không dùng các điện thoại trên vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo. Bị cáo T và bị cáo S đề nghị trả lại các tài sản trên cho bà H là mẹ của bị cáo T và chị C là chị của bị cáo S nhận thay là phù hợp nên được chấp nhận.

    (Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/10/2024 của Công an huyện K).

  8. Về án phí: Các bị cáo Sa Văn S và Đinh Công Quang T là đồng bào thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, các bị cáo có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.
  9. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  10. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho S, T, do S và T đều khai không biết họ tên, địa chỉ của người này. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không có căn cứ để xác minh, xử lý là có căn cứ.
  11. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 90B1-752.31 là của anh Trần Văn Y, sinh năm 1980 ở TDP B, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam, cho T mượn nhưng không biết T sử dụng làm phương tiện phạm tội. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại anh Y là có căn cứ nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Sa Văn S và Đinh Công Quang T đều phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    - Xử phạt Sa Văn S 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 29/8/2024.

    - Xử phạt Đinh Công Quang T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 21/5/2024.

  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a; c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    - Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoãn mẫu vật giám định số 367/KL-KTHS (MT), bên trong có 0,191g ma tuý loại Heroin; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L; mảnh giấy bạc gói ma tuý; 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.

    - Trả lại bị cáo Đinh Công Quang T 01 điện thoại di động Samsung màu xanh cho mẹ đẻ bị cáo là bà Lý Thị H, sinh năm: 1981; HKTT: Đường T, tổ dân phố B, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam nhận thay.

    - Trả lại bị cáo Sa Văn S 01 điện thoại di động Iphone 11 màu xanh và 01 điện thoại di động Oppo màu đen do chị gái bị cáo là chị Sa Thị C, sinh năm 1984, hiện trú tại thôn B, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái nhận thay.

    (Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/10/2024 của Công an huyện K).

  3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án (05/11/2024); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Đào Duy Trĩnh

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên.
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hưng Yên.
  • - Viện kiểm sát, Công an huyện Kim Động;
  • - Chi cục THADS huyện Kim Động;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Chính Nghĩa, Cát Thịnh;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng Tòa án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Văn Quyền

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 80/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn S và Đinh Công Quang T - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger