Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số:80/2024/HS-ST

Ngày: 25/9/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Năm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lưu Xuân Giới – Cán bộ hưu trí thị xã Đông Triều.

Ông Nguyễn Văn Bẩy – Cán bộ hưu trí thị xã Đông Triều.

Thư ký phiên tòa: ông Hoàng Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Tuấn Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 25/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 72/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HS ngày 10/9/2024 đối với bị cáo:

Trần Thị H - Tên gọi khác: không; sinh ngày: 22/9/1993 tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: thôn H, xã T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở hiện nay: Tổ B, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hồng V và bà Phạm Thị Đ; có chồng là: Phạm Văn K, sinh năm 1989; có hai con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2020; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại tại nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Nguyễn Tố H1, sinh năm 1951; địa chỉ: đường H, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  • + Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1975; địa chỉ: khu H, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh.; có mặt tại phiên tòa.
  • Người đại diện theo ủy quyền của chị H2 là chị Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 1979; địa chỉ: khu M, thị xã K, tỉnh Hải Dương, có mặt.
  • + Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1977; địa chỉ: khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
  • + Chị Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 1979; địa chỉ: khu M, thị xã K, tỉnh Hải Dương; có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Ông Cao Văn L1; địa chỉ: thôn Đ, xã T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 03/6/2024, Trần Thị H (không có giấy phép lái xe mô tô) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 14Z1-514.68, chở con trai là cháu Phạm Quang H4 (sinh ngày 24/3/2020) đi theo hướng từ tuyến đường tránh nội thị M đi chợ M. Khi xe mô tô do H điều khiển đi đến đoạn đường ngã tư nội thị, thuộc khu đô thị T, phường M, thị xã Đ, do H điều khiển xe không làm chủ tốc độ và không nhường đường cho phương tiện đi từ bên phải qua ngã tư nên đã va chạm với xe đạp do ông Nguyễn Tố H1 (sinh năm 1951, trú tại: khu H, phường M, thị xã Đ) điều khiển đi từ bên phải đến, gây tai nạn. Hậu quả: ông H1 bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện V1-Thụy Điển, xe đạp bị hư hỏng.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 655 ngày 23/7/2024, của Trung tâm giám định pháp y Sở y tế tỉnh Q kết luận thương tích của ông Nguyễn Tố H1: Tụ máu dưới màng cứng, chảy máu dưới nhện, dập não đã được phẫu thuật lấy máu tụ dưới màng cứng 02 lần. Sau 50 ngày còn tụ máu và dịch dưới màng cứng đã được dẫn lưu dịch não tủy vào ổ bụng. Hiện tại đái, ỉa không tự chủ, di chứng liệt nửa người phải mức độ nặng: 71%. Ở khuyết xương sọ 02 bán cầu đường kính >10cm, đáy phập phồng: 41%. Sẹo vết mổ bán câu trái kích thước trung bình; vùng thái dương phải và vùng hạ sườn phải kích thước nhỏ: 04%. Tự thở qua mở khí quản vùng cổ: 04%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 84% (tám mươi bốn phần trăm). Tiên lượng nặng, sống thực vật, nguy cơ tử vong.

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Vị trí xảy ra tai nạn là khu vực ngã 4 đường giao nhau, khu vực này không có đường ưu tiên. Tại khu vực ngã tư mở rộng về chiều đi của xe mô tô và xe đạp đều không có biển báo và hệ thống vạch sơn giảm tốc. Mặt đường nơi xảy ra tai nạn trải nhựa bằng phẳng không che khuất tầm nhìn. Đường không có vạch sơn phân chia phần đường, làn đường. Đường hướng từ tuyến tránh đi nội thị trung tâm phường M rộng 10,5m. Đường hướng từ khu V đi ra ngã tư rộng 6,3m. Đường hướng từ khu V đi ra ngã tư rộng 8,4m. Ghi nhận các dấu vết tạo ra do tai nạn gồm: Vết xước kí hiệu số 1 dài 7,5m, vị trí rộng nhất là 0,65m do xe mô tô biển số 14Z1-514.68 tạo ra. Điểm đầu vết nằm trên phần đường hướng đi nội thị M, điểm cuối nằm tiếp giáp với giá để chân bên trái xe mô tô biển số 14Z1-514.68. Xe mô tô biển số 14Z1-514.68 nằm đổ nghiêng sang trái trên phần đường hướng nội thị Mạo Khê đi tuyến tránh, đầu xe quay hướng trung tâm phường M đi tuyến đường tránh. Xe đạp nằm đổ nghiêng sang trái, trên phần đường hướng nội thị Mạo Khê đi tuyến tránh. Đám vết màu nâu đỏ, đã khô, kích thước (0,6x0,5)m, trên bề mặt vết có rải các mảnh vỡ của viên than tổ ong đã đốt khô và mảnh vải trắng, nằm tại khu vực ngã 4, trên phần đường đi nội thị trung tâm phường M. T vết cách mép ngã tư 5m, cách điểm đầu vết số 1 là 5m.

Kết quả khám xe mô tô biển số 14Z1-514.68: Xe không lắp gương chiếu hậu hai bên. Vỡ ốp nhựa ghi đông phía trên đèn pha, bung gãy chốt gá, bung bật khỏi vị trí ban đầu. Mài mòn nhựa cạnh trước bên trái ốp nhựa ghi đông và cạnh trước bên trái đèn xi nhan trước bên trái, diện kích thước (5x3)cm, hướng từ trước về sau. Vết trượt xước nhựa cạnh trước bên trái, phía trên cánh yếm bên trái dài 7cm, rộng 0,2cm, hướng từ trước về sau. Trượt xước kim loại, trượt xước cao su cạnh ngoài giá để chân trước bên trái diện (4x3)cm, hướng từ trước về sau, vị trí xước bám dính bột màu trắng dạng bột đá đường. Xước kim loại cạnh ngoài tay nâng sau xe bên trái kích thước (15,5x1,2)cm, hướng từ trước về sau. Chân phanh sau xe bị cong vênh hướng từ trước về sau.

Kết quả khám xe đạp: Xe đạp loại thể thao, màu sơn đen, phần ghi đông xe bị xoay lệch sang trái. Trược xước sơn tại cạnh trên bên trái và cạnh trên vành trước kích thước (4,5x0,2)cm, hướng từ phải sang trái, tâm vết cách chữ Y trong chữ Country má lốp bên trái 29cm. Vết xước sơn trên thân nan hoa vành trước xe dài 3cm, rộng 2cm. Vết xước sơn cạnh ngoài đầu tay phanh bên trái kích thước (01x0,2)cm, chiều hướng từ trái sang phải.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 52 ngày 04/7/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Đ, kết luận: Xe đạp đã qua sử dụng, loại xe thể thao, bị hư hỏng do tai nạn giao thông có giá trị là 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

Bị cáo Trần Thị H khẳng định bị cáo chưa có giấy phép lái xe mô tô và chính bị cáo là người điều khiển phương tiện giao thông gây tai nạn cho bị hại. Tại thời điểm điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 14Z1-514.68, đi theo hướng từ tuyến đường tránh nội thị M đi chợ M. Khi xe mô tô do H điều khiển với vận tốc khoảng 40 km/h đi đến đoạn đường ngã tư nội thị thuộc khu đô thị T, phường M, thị xã Đ, lúc này H quan sát thấy đường vắng nên giữ nguyên tốc độ và đi vào ngã tư. Cùng lúc đó, H phát hiện thấy xe đạp do ông Nguyễn Tố H1 điều khiển nhưng H không giảm tốc độ, không nhường đường cho phương tiện đi từ bên phải qua ngã tư, khi hai xe cách nhau khoảng 20cm H đánh lái hơi chếch sang trái nhưng không kịp nên đã va chạm với xe đạp do ông Nguyễn Tố H1 (sinh năm 1951, trú tại: khu H, phường M, thị xã Đ) điều khiển đi từ bên phải đến, gây tai nạn. Hậu quả: ông H1 bị ngã văng tại điểm va chạm và bị thương nặng, sau khi xảy ra sự việc H đã nhờ người dân gọi xe đưa ông H1 đi cấp cứu tại Bệnh viện V1-Thụy Điển, xe đạp của ông H1 bị hư hỏng. Bị cáo H thừa nhận nguyên nhân gây tai nạn do bị cáo “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; thiếu quan sát, chủ quan nên đã gây tai nạn.

Tại phiên tòa, bị cáo một lần nữa nhận tội và xác định nguyên nhân gây tại nạn là do bị cáo không chấp hành quy định của luật giao thông, lỗi hoàn toàn do bị cáo.

Bị hại hiện đang sống thực vật, không có khả năng khai báo quá trình diễn biến sự việc dẫn đến xảy ra tai nạn. Đại diện hợp pháp của bị hại thừa nhận nội dung vụ án như đã nêu ở trên, không phản đối hay khiếu nại gì. Đại diện hợp pháp của bị hại đã thống nhất yêu cầu H bồi thường 50.000.000đ và H đồng ý. Đại diện hợp pháp của bị hại khẳng định hiện đã nhận được 5.000.000 đồng tiền do bị cáo tự nguyện bồi thường yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm cho bị hại số tiền là 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng) và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người làm chứng anh Cao Văn L1 có lời khai thể hiện: Hiện anh L1 làm nghề sửa chữa và buôn bán xe máy. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 14Z1-514.68 là do anh mua từ một người khác, sau đó anh làm thủ tục đăng ký lại mang tên mình và bán cho bị cáo Trần Thị H. Anh khẳng định mình không còn liên quan gì đến chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 14Z1-514.68.

Tại cáo trạng số 1748/CT-VKSĐT ngày 29/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố bị cáo Trần Thị H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều giữ nguyên quyết định truy tố theo cáo trạng đối với bị cáo Trần Thị H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự và đề nghị áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thị H từ 36 (Ba sáu) tháng tù đến 42 (Bốn hai) tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày đi thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Phần bồi thường đề bị buộc bị cáo phải bồi thường cho đại diện hợp pháp bị hại là 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).

Bị cáo không phát biểu quan điểm tranh luận.

Thực hiện quyền nói lời sau cùng, bị cáo nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố và xét xử đều bảo đảm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không có khiếu nại, tố cáo nên được Hội đồng xét xử đánh giá là hợp pháp.

Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập cũng như do người tham gia tố tụng cung cấp đảm bảo đúng quy định theo Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo cùng thừa nhận tính hợp pháp của tài liệu, chứng cứ nên Hội đồng xét xử đánh giá toàn bộ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

[2] Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa, đã xác định được như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 03/6/2024, Trần Thị H (không có giấy phép lái xe mô tô) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 14Z1-514.68, chở con trai là cháu Phạm Quang H4 (sinh ngày 24/3/2020) đi theo hướng từ tuyến đường tránh nội thị M đi chợ M. Khi xe mô tô do H điều khiển đi đến đoạn đường ngã tư nội thị, thuộc khu đô thị T, phường M, thị xã Đ, do H điều khiển xe không làm chủ tốc độ và không nhường đường cho phương tiện đi từ bên phải qua ngã tư nên đã va chạm với xe đạp do ông Nguyễn Tố H1 (sinh năm 1951, trú tại: khu H, phường M, thị xã Đ) điều khiển đi từ bên phải đến, gây tai nạn. Hậu quả: ông H1 bị thương tích tổn hại sức khỏe 84% (tám mươi tư phần trăm), xe đạp bị hư hỏng thiệt hại trị giá 450.000đ (bốn trăm năm mươi nghìn đồng)

Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông do Trần Thị H không có giấy phép lái xe nhưng vẫn điều khiển xe mô tô, khi qua ngã tư H không giảm tốc độ, không nhường đường cho phương tiện đi từ bên phải qua ngã tư, vi phạm khoản 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 24 Luật giao thông đường bộ.

[3] Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Thị H đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Bộ luật Hình sự quy định

Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;”…………

[4] Hành vi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây tổn hại sức khỏe cho người khác 84% của Trần Thị H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm an toàn giao thông được Bộ luật Hình sự quy định. Bị cáo là người thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức, biết rõ việc điều khiển xe mô tô bắt buộc phải có giấy phép lái xe, bản thân lại điều khiển phương tiện giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ và vô ý do chủ quan gây hậu quả nghiêm trọng cho người khác. Như vậy, đối chiếu với các yếu tố cấu thành tội phạm, đủ cơ sở khẳng định Trần Thị H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự và cần áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo để đảm bảo tính giáo dục răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị áp dụng điều luật cũng như mức hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

[6] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo; người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.

[8] Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn giao thông. Hội đồng xét xử thấy bị cáo phạm tôi với lỗi vô ý vì chủ quan; tuy có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng nguyên nhân tai nạn hoàn toàn do bị cáo, hậu quả làm một người bị tổn hại 84% sức khỏe nên cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo thành công dân tốt. Hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của nhà nước và pháp luật. Đối với biện pháp ngăn chặn mà bị cáo đang bị áp dụng là “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” cần được tiếp tục áp dụng để bảo đảm thi hành án.

[9] Về hình phạt bổ sung: theo khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm nhưng bị cáo là lao động phổ thông nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[10] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Trần Thị H đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại ông Nguyễn Tố H1 tổng số tiền 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng) gồm bồi thường đối với thương tích của ông H1 và chi phí sửa chữa xe đạp, hiện bị cáo đã bồi thường số tiền 5.000.000₫ (năm triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Trần Thị H.

Đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại do sức khỏe bị xâm phạm tổng cộng là 50.000.000 đồng với các khoản mục gồm: tiền cứu chữa; tiền mua thuốc; tiền mất thu nhập; tiền bù đắp tổn thất về mặt tinh thần.

Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000 đồng như bị hại yêu cầu; bị cáo đã bồi thường được 5.000.000 đồng, số tiền còn lại 45.000.000 đồng do bị cáo hiện chưa có tiền nên bị cáo xin được bồi thường cho bị hại sau.

Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo thống nhất thỏa thuận mức bồi thường nên Hội đồng xét xử đánh giá sự thỏa thuận của bị hại và bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không trái với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).

[11] Về vật chứng vụ án: Xe đạp của ông Nguyễn Tố H1, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ đã trả cho đại diện hợp pháp của bị hại; xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 14Z1-514.68 thuộc sở hữu của bị cáo Trần Thị H và phạm tội do lỗi vô ý cần trả lại cho bị cáo Trần Thị H.

[12] Bị cáo, bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong phạm vi và thời hạn luật định.

[14] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm a khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Thị H 36 (Ba sáu) tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; thời hạn tù kể từ ngày đi thi hành án.

Về bồi thường dân sự:

Áp dụng: Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586 và Điều 590 Bộ luật Dân sự; Điều 2; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự

Chấp nhận yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Tố H1 (gồm chị Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị H3 và Nguyễn Thị L) đối với bị cáo Trần Thị H.

Buộc bị cáo Trần Thị H có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho ông Nguyễn Tố H1 với số tiền là 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về án phí và quyền kháng cáo:

  • - Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Khoản 1, 3 Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23; khoản 2, 8 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Buộc bị cáo Trần Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.250.000 đồng (Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự vào ngân sách nhà nước.
  • Về quyền kháng cáo:
  • Áp dụng: khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 332; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi gửi:

  • - Bị cáo; Bị hại; Đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - VKSND thị xã Đông Triều;
  • -Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều;
  • -Cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã Đông Triều;
  • - Chi cục THADS thị xã Đông Triều;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh
  • - Lưu hồ sơ + THA

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Nguyễn Văn Năm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 80/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị H bị truy tố về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger