TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 80/2024/HS-ST Ngày 23 tháng 9 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Phước Công; Ông Tô Ngọc Liêm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Tôn Văn Xuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1976, tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N (chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1935; vợ là Dương Thị Ánh L1, sinh năm 1987, có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/4/2024 đến nay, tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A; Có mặt tại phiên tòa;
- Người bị hại: Nguyễn Quốc C, sinh năm 1980; nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Trần Lê Trường H, sinh năm 1983; nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; Vắng mặt.
Ông Lê Hửu T, sinh năm 1990; nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
Ông Ngô Hà Quốc H1, sinh năm 1999; nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1999; nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
Ông Nguyễn Công K, sinh năm 1981; nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
Ông Trương Văn H2, sinh năm 1998; nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
Ông Trần Thanh T1, sinh năm 1981; nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
Ông Lê Thành V, sinh năm 1990; nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
Ông Võ Phương Đ, sinh năm 1974; nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
Ông Trần Văn C1, sinh năm 1980; nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 29/3/2019, sau khi uống bia, Nguyễn Văn L cùng bạn tên Đ1 (không rõ họ, địa chỉ) và 04 người bạn của Đ1 (không rõ họ tên, địa chỉ) đến quán K1 của Phan Thị Mỹ D ở ấp M, xã M, huyện C hát karaoke và uống bia. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, trong lúc uống bia, hát karaoke, L cự cãi với Đặng Thúy O (tiếp viên của quán) rồi rút dây điện không cho hát và chỉ vào mặt O nói “chơi không vui, nghỉ tính tiền”, nên tiếp tân tính tiền phiếu. Khi này, L đập bể chai bia, cầm vỏ chai chạy ra quầy tiếp tân nói “đứa nào muốn gì ra đây” rồi cùng Đến rượt Lê Văn H3 (tiếp tân của quán) để đánh nhưng không được, L quay lại nắm cổ áo của Nguyễn Thị Kim P1 (tiếp viên của quán) thì P1 vùng vẫy bỏ chạy, sau đó L và Đ1 bỏ đi. D điện thoại trình báo Công an xã M, nhận được tin báo, Nguyễn Công K (Trưởng Công an xã), phân công Trần Lê Trường H, Nguyễn Quốc C, Trần Văn C1, Võ Phương Đ (Công an viên) mặc trang phục Công an xã đến giải quyết, C chở H chạy trước đến quán của D thì được biết L đã bỏ đi.
Cùng lúc này, người dân báo tin cho H có 02 thanh niên cầm dao đi bộ đến quán của D, nên C chở H đi gặp 02 thanh niên để khuyên ngăn. Khi đến chùa L2 thuộc ấp M, xã M (cách quán của D khoảng 500m), thấy L cầm 02 cây dao Thái Lan, Đ1 cầm cây dao tự chế đi bộ trong tình trạng say rượu, chửi thề thô tục, C dừng xe, H đi đến nói với L “chúng tôi là Công an, các anh cầm dao làm gì vậy, bỏ dao xuống”, Đến ném bỏ cây dao, còn L cầm dao đi đến H thì H lùi về phía sau làm trượt chân té xuống mương, H tri hô cho C biết. C đi đến dùng tay phải câu cổ khống chế L thì bị L dùng dao chém vào tay phải của C 02 cái, bị chảy máu, C buông Lẽ ra, thấy vậy H nói “mày dám chém Công an hả”, thì L trả lời “Công an cũng quất luôn”, Đ1 và vợ của L can ngăn nhưng không được. Khi này, K cùng Tổ công tác Trần Thanh T1, Lê Hửu T2, Ngô Hà Quốc H1, Nguyễn Văn P, Trương Văn H2, Lê Thành V, Trần Văn C1, Võ Phương Đ đến, thấy có nhiều Công an nên Đến bỏ chạy, L cầm dao chửi thề thô tục thì K kêu L bỏ dao xuống, có gì về Trụ sở Công an xã làm việc, L không chấp hành, K dùng súng bắn chỉ thiên, L nói “đâm thằng bắn súng này luôn”, rồi cầm dao xông về phía K, thì K dùng chân đạp vào người làm Lẽ té ngã. Sau đó, lực lượng Công an khống chế đưa L về Trụ sở Công an xã làm việc, do L bị xây sát vùng đầu, nên cho gia đình bảo lĩnh để điều trị thương tích, L bỏ trốn đến ngày 28/4/2024 bị bắt theo quyết định truy nã.
Vật chứng thu giữ: 01 cây dao tự chế dài 64cm, cán dao bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại; 01 cây dao Thái Lan dài 23,5cm, cán dao bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại; 01 lưỡi dao bằng kim loại, kích thước (11,5x1,9)cm và 01 cán dao bằng nhựa kích thước (10,5 x 02)cm.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 101/19/TgT ngày 11/4/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh A, đối với Nguyễn Quốc C: Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải kích thước 2,5 x 0,3 cm; Sẹo mặt sau 1/3 trên giữa cẳng tay phải kích thước 5,5 x 0,5 cm; Sây sát mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái không tồn tại. Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả các thương tích gây nên là 8%.
Tại Cáo trạng số 77/CT-VKSCM ngày 22/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án nêu trên.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 330; i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 9 tháng đến 01 năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bị hại và người làm chứng vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 18 giờ ngày 29/3/2019, tại ấp M, xã M sau khi uống bia, Nguyễn Văn L cùng bạn tên Đến rượt đuổi Lê Văn H3 và Nguyễn Thị Kim P1; khi nhận được tin báo, ông Nguyễn Công K (Trưởng Công an xã), phân công Trần Lê Trường H, Nguyễn Quốc C, Trần Văn C1, Võ Phương Đ (Công an viên) mặc trang phục Công an xã đến giải quyết thì thấy L dùng dao chém vào tay phải của C 02 cái gây thương tích là 08%. Khi ông K cùng tổ công tác đến, L cầm dao chửi thề thô tục, ông K dùng súng bắn chỉ thiên, L nói “đâm thằng bắn súng này luôn”, rồi cầm dao xông về phía K, thì K dùng chân đạp vào người làm Lẽ té ngã. Sau đó, lực lượng Công an khống chế đưa L về trụ sở Công an xã làm việc, lập biên bản về việc vi phạm.
Hành vi nêu trên bị cáo Nguyễn Văn L đã phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm, trực tiếp và hướng đến hoạt động đúng đắn của người thực thi công vụ, hoạt động quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực hành chính về trật tự an toàn xã hội, trực tiếp tác động, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, quản lý của địa phương, gây dư luận trong nhân dân.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi xâm phạm đến hoạt động của cán bộ Nhà nước đang thực thi công vụ là vi phạm pháp luật nhưng bị vẫn cố ý thực hiện; thể hiện sự xem thường pháp luật, bất chấp hậu quả. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân chưa có tiền án tiền sự. Đây là các tình tiết được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 nên Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc là căn cứ giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Xét thấy: Bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của người thực thi công vụ, gây dư luận trong nhân dân. Do đó, việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Nguyễn Quốc C, Lê Hửu T2, Trương Văn H2, Nguyễn Công K, không yêu cầu xử lý Lẽ về hành vi cố ý gây thương tích; Nguyễn Thị Kim P1 trong lúc xô đẩy với L bị đứt ngón tay Phan Thị Mỹ D bị L đập bể vỏ chai bia, giá trị thiệt hại không lớn, P1, D không yêu cầu xử lý, nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Quốc C, Lê Hửu T2, Trương Văn H2, Nguyễn Công Khanh Nguyễn Thị Kim P1; Phan Thị Mỹ D không yêu cầu bồi thường nên không xem xét đến.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 cây dao tự chế dài 64cm, cán dao bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại; 01 cây dao Thái Lan dài 23,5cm, cán dao bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại; 01 lưỡi dao bằng kim loại, kích thước (11,5 x 1,9) cm và 01 cán dao bằng nhựa kích thước (10,5 x 02) cm. Xét thấy, đây là dụng cụ dùng vào việc vi phạm pháp luật, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Căn cứ khoản 1 Điều 330; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 9 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày tạm giam 28/4/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao tự chế dài 64cm, cán dao bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại; 01 cây dao Thái Lan dài 23,5cm, cán dao bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại; 01 lưỡi dao bằng kim loại, kích thước (11,5 x 1,9) cm và 01 cán dao bằng nhựa kích thước (10,5 x 02) cm.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới ngày 18/9/2024).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Bình |
Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 80/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo có hành vi chống người thi hành công vụ
