|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 80/2024/HS-ST Ngày 20 - 9 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Chí Vương 2. Bà: Phạm Thị Thanh Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2024/HSST ngày 06/9/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HS ngày 09/9/2024 đối với các bị cáo:
1. Đoàn Công T, sinh năm 1992 tại tỉnh Bình Phước
Tên gọi khác: Bờm; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12
Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: ấp Thắng Lợi, xã Lộc Phú, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước
Cha: Đoàn Công D, sinh năm: 1960, Mẹ Doãn Thị N, sinh năm 1959 (đã chết); Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, bị TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xử phạt 09 tháng tù theo Bản án số 65/2022/HSST ngày 04/11/2022. T đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/5/2023, căn cứ quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự thì T chưa được xoá án tích.
Tiền sự: ngày 03/12/2021 bị Công an xã L, huyện L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC với số tiền 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”, T chưa chấp hành nộp phạt.
Nhân thân: Ngày 13/7/2022 bị TAND huyện Lộc Ninh ban hành Quyết định số 142022QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 20 tháng.
Ngày 22/5/2024, có hành vi Trộm cắp tài sản, đến ngày 31/5/2024 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Quyết định khởi tố bị can. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/5/2024 cho đến nay.
2. Trần Minh H, sinh năm 1992 tại tỉnh Bình Phước.
Tên gọi khác: Cu ba; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 08/12.
Nơi cư trú: tổ 2, ấp Thuận An, xã Thanh An, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước
Cha: Trần Văn Đ, sinh năm 1957 (đã chết), Mẹ: Trương Thị T1, sinh năm 1962; Bị cáo có vợ là Bùi Vĩ L, sinh năm 1999, có 01 con là Trần Uyên N1, sinh năm 2017.
Tiền án: Không.
Tiền sự: ngày 29/3/2024 bị UBND xã T, huyện H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 52/QĐ-XPHC về hành vi “Trộm cắp tài sản”, H đã chấp hành nộp phạt xong.
Ngày 22/5/2024, có hành vi Trộm cắp tài sản, đến ngày 09/7/2024 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Quyết định khởi tố bị can. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/7/2024 cho đến nay.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại.
1. Ông Nguyễn Đình Q, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt).
2. Anh Lưu Văn S, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Tổ D, ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; (Vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt).
3. Ông Đặng Văn M, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Tổ D, khu phố P, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Văn L1, sinh năm 1981;
Nơi cư trú: Tổ I, khu phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Công T là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Trong khoảng thời gian từ ngày 22/5/2024 đến ngày 24/5/2024 T đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ ngày 22/5/2024, trong quá trình nói chuyện với Trần Minh H thì H biết T đang cần tiền tiêu xài nên H dẫn T cùng với Nguyễn Văn L1 đến vườn điều nhà anh Nguyễn Đình Q thuộc ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước để T lấy trộm máy bơm nước của anh Q. Tại đây, T và L1 dùng mỏ lết tháo ốc vít và các vật dụng đầu máy bơm bỏ vào can nhựa lọai 30 lít rồi cả hai đem đi bán cho ông Lê Văn B tại ấp B, xã A, huyện H với giá 320.000 đồng rồi chia nhau tiêu xài.
Vụ thứ hai: Khoảng 06 giờ ngày 23/5/2024, T nhờ L1 chở đến vườn cao su của anh Lưu Văn S thuộc ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Sau đó, T dùng kìm cắt dây kẽm gai và nhổ các cọc gỗ làm hàng rào để mang đi bán. Sau khi nhổ được 16 cây cọc rào gỗ (trong đó có 03 cọc rào của ông Đặng Văn M) và 01 cuộn kẽm gai T gọi điện cho Khúc Văn T2 điều khiển xe ba gác đến nơi cùng T chất 11 cọc rào lên xe, do trời tối nên T để lại 05 cọc rào và cuộn kẽm gai rồi cả hai đi đến nhà ông Nguyễn Văn L2 bán được 275.000.000đ. T trả 170.000đ tiền xe cho T2, số tiền còn lại T tiêu xài hết.
Vụ thứ ba: Khoảng 03 giờ ngày 24/5/2024, T một mình điều khiển xe lôi (mượn của anh Nguyễn Văn H1) quay lại vườn điều của anh Nguyễn Đình Q để lấy trộm máy bơm trước đó T và L1 tháo dỡ. Khi đến nơi, T lăn máy bơm lên xe lôi rồi điều khiển xe về nhà ông L2 và để máy bơm tại nhà ông L2.
Vụ thứ tư: Khoảng 06 giờ ngày 24/5/2024, T nhờ ông L2 chở đến vườn cao su nhà ông Đặng Văn M thuộc ấp T, xã T. Sau đó T đi vào vườn cao su và nhổ được 37 cọc rào bằng gỗ. Sau đó, T nhờ bạn là Trịnh Văn V mang nước xuống vườn cao su cho T uống. Khi này T liên hệ với ông L2 để bán cọc gỗ cho ông L2 và yêu cầu ông L2 chuyển khoản cho T trước 500.000 đồng thì ông L2 đồng ý. T nhờ V cho mượn số tài khoản để ông L2 chuyển tiền. Khi nhận được số tiền 500.000đ, T trả Vụ 200.000₫ đã mượn trước đó, nhờ Vụ nạp tiền game 200.000đ, còn lại 100.000₫ Vụ đưa tiền mặt cho T.
Khi này, T đi bộ ra quán cà phê “Nấm” thuộc khu vực ấp T, xã T, huyện H để uống nước và nhờ Trương Văn T3 (Dụi) hỏi thuê xe ba gác thì T3 đồng ý. T3 gọi điện cho Vũ Hoàng P thì P đồng ý chở thuê cho T. P điều khiển xe ba gác đến vườn cao su của anh S và cùng T chất 37 cọc gỗ lên xe. Sau đó, P điều khiển xe ba gác, T ngồi trên xe đi theo đường vườn điều ra đường nhựa, cách đường liên ấp khoảng 10m thì bị anh Lưu Văn S phát hiện và trình báo công an xã T.
Tại cơ quan Công an, Đoàn Công T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 29/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận:
- 53 cọc gỗ, mỗi cọc gỗ có chiều dài trung bình khoảng 02m, chiều rộng từ 10-19cm, đã qua sử dụng có đơn giá 43.333đ. Tại thời điểm định giá có tổng giá trị 2.296.649₫.
- 13.2 kg kẽm gai đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá có giá trị 105.600đ.
- 01 (một) đầu bơm máy dầu màu xanh, trên thân máy có ghi chữ Cơ khí ngọc, trọng lượng 22.5kg, đã qua sử dụng. Tại thời điểm định giá có giá trị 700.000₫.
- 01 (một) máy bơm dầu trên thân máy có ghi chữ PY190117, mua cũ vào khoảng tháng 4/2023 với số tiền 4.500.000đ, đã qua sử dụng. Tại thời điểm định giá có giá trị 1.500.000đ.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS ngày 07/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 (một) khung kim loại bằng sắt, màu xám đen, trọng lượng 25kg là 195.825₫.
Tổng giá trị tài sản của các bị hại mà T chiếm đoạt có giá trị là 4.798.074₫.
* Về vật chứng của vụ án:
- Thu giữ:
- 01 (một) khung kim loại bằng sắt, màu xám đen, trọng lượng 25kg.
- 01 (một) can nhựa màu trắng loại 30 lít phần đầu bị cắt, “CALOFIC”
- 01 (một) kìm kim loại, chiều dài 16,8cm; lưỡi bằng kim loại màu xám đen rộng 2cm; cán bọc nhựa màu đen đỏ vàng, trên cán có ghi dòng chữ “MEINFA, Asaki”, rộng 5,3cm. Tình trạng đã cũ.
- 01 (một) máy bơm dầu trên thân máy có ghi chữ “PY190117”.
- 01 (một) đầu bơm máy dầu màu xanh, trên thân máy có ghi chữ “Cơ khí ngọc”, trọng lượng 22,5kg.
- 13 (mười ba) cây cọc gỗ da đá, mỗi cọc gỗ có chiều dài trung bình khoảng 02m, rộng từ 10-19cm.
- 40 (bốn mươi) cây cọc gỗ (trong đó có 22 cây cọc gỗ da đá, 10 cây cọc gỗ cà chất, 08 cây cọc gỗ bạch đàn). Mỗi cọc gỗ có chiều dài trung bình khoảng 02m, rộng từ 10-19cm.
- 01 (một) xe ba gác (ba bánh) nhãn hiệu YINXIANG, màu xám, BKS: 61L6 – 1178, số máy: 164ML21L005728, số khung: HKZ005728.
- 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 93T5-2542.
- 13.2kg kẽm gai.
- Xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) khung kim loại bằng sắt, màu xám đen, trọng lượng 25kg; 01 can nhựa màu trắng loại 30 lít phần đầu bị cắt, “CALOFIC”; 01 (một) máy bơm dầu trên thân máy có ghi chữ “PY190117”; 01 (một) đầu bơm máy dầu màu xanh, trên thân máy có ghi chữ “Cơ khí ngọc”, trọng lượng 22,5kg. Đây là tài sản của anh Nguyễn Đình Q. Căn cứ điểm b, khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Q theo quy định.
- Đối với 07 (bảy) cọc gỗ da đá, 06 (sáu) cọc gỗ cà chất; 13,2 kg kẽm gai. Đây là tài sản hợp pháp của anh Lưu Văn S. Căn cứ điểm b, khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh S theo quy định.
- Đối với 40 (bốn mươi) cây cọc gỗ (trong đó có 22 cây cọc gỗ da đá, 10 cây cọc gỗ cà chất, 08 cây cọc gỗ bạch đàn). Đây là tài sản hợp pháp của ông Đặng Văn M. Căn cứ điểm b, khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông M theo quy định.
- Đối với 01 (một) xe ba gác (ba bánh) nhãn hiệu YINXIANG, màu xám, BKS: 61L6 – 1178, số máy: 164ML21L005728, số khung: HKZ005728 và 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 93T5-2542 quá trình xác minh, tra cứu số khung, số máy và đăng ký xe thì chưa xác định được chủ sở hữu, do vậy đề nghị giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiếp tục xác minh và xử lý theo quy định pháp luật.
* Trách nhiệm dân sự:
Bị hại Nguyễn Đình Q đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt, đã được gia đình Trần Minh H bồi thường số tiền 1.000.000đ và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Bị hại Lưu Văn S: đã nhận lại được tài sản 13 cọc gỗ và 13.2 kg kẽm gai. Anh S yêu cầu Đoàn Công T bồi thường tiền kẽm gai và tiền công dựng hàng rào với tổng số tiền là 1.600.000đ.
Bị hại Đặng Văn M: đã nhận lại được tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
- Tại bản Cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 06 tháng 9 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản đã truy tố Đoàn Công T và Trần Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo không tranh luận.
- Những người bị hại có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản giữ nguyên truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn Công T mức án từ 20 đến 24 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Minh H mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên như đề nghị xử lý vật chứng như nội dung bản cáo trạng.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Nguyễn Đình Q đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt, đã được gia đình Trần Minh H bồi thường số tiền 1.000.000đ và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét.
Bị hại ông Đặng Văn M đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét.
Bị hại Lưu Văn S: đã nhận lại được tài sản 13 cọc gỗ và 13.2 kg kẽm gai. Anh S yêu cầu Đoàn Công T bồi thường tiền kẽm gai và tiền công dựng hàng rào với tổng số tiền là 1.600.000đ, đền N2 Hội đồng xét xử buộc bị cáo T có nghĩa vụ bồi thường theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bị cáo và những người tham gia tố tụng. Các bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ý kiến, khiếu nại gì nên hợp pháp. Các bị hại có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra, truy tố bị hại đã cung cấp lời khai phù hợp với nội dung vụ án; tài sản bị chiếm đoạt bị hại đã nhận lại và các bị cáo đã bồi thường cho bị hại và bị hại không yêu cầu gì thêm; người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng không yêu cầu gì và đã có bản trình bày ý kiến phù hợp với nội dung vụ án nên việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử vụ án mà vắng bị hại và người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
[2]. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Đoàn Công T đã lén lút thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản như sau:
Vụ thứ 01: Ngày 22/5/2024, được sự chỉ dẫn của Trần Minh H nên Đoàn Công T và Nguyễn Văn L1 đã trộm cắp 01 đầu máy bơm trị giá 700.000đ của bị hại Nguyễn Đình Q; trong vụ án này Trần Minh H là đồng phạm với vai trò giúp sức.
Vụ thứ 02: Ngày 23/5/2024, Đoàn Công T trộm cắp 13 cọc rào bằng gỗ và 01 cuộn kẻm gai (13,2kg) có tổng giá trị 798.928 đồng của bị hại Lưu Văn S và 03 cọc gỗ có giá trị 129.999 đồng của bị hại Đặng Văn M.
Vụ thứ 03: Ngày 24/5/2024, Đoàn Công T tiếp tục trộm cắp 01 máy bơm nước và 01 khung sắt (mà trước đó Trần Minh H đã chỉ dẫn) của bị hại Nguyễn Đình Q có tổng giá trị 1.695.825 đồng.
Vụ thứ 04: Ngày 24/5/2024, Đoàn Công T tiếp tục trộm cắp 37 cọc rào gỗ của ông Đặng Văn M có tổng giá trị 1.603.321đ đồng.
Như vậy, Đoàn Công T đã lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại có tổng trị giá là 4.798.074 đồng. Trong đó, Trần Minh H đã chỉ dẫn, giúp sức cho Đoàn Công T chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị là 2.395.825 đồng. Do vậy, hành vi của Trần Minh H đã đồng phạm với Đoàn Công T về tội Trộm cắp tài sản.
[3]. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đủ căn cứ để kết luận hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản đã truy tố.
Đối với Nguyễn Văn L1: đã có hành vi cùng Đoàn Công T chiếm đoạt 01 đầu máy bơm trị giá 700.000đ vào ngày 22/5/2024, quá trình xác minh nhân thân xác định chưa có tiền án, tiền sự về tội trộm cắp hoặc chiếm đoạt tài sản. Hành vi của L1 chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử phạt hành chính đối với L1 về hành vi “Trộm cắp tài sản” là đúng quy định.
Đối với Lê Văn B, Nguyễn Văn L2: khi mua máy bơm, cọc rào thì ông B và ông L2 không biết tài sản do T, H trộm cắp mà có. Do đó, không cấu thành tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Đối với Khúc Văn T2, Vũ Hoàng P quá trình nhận chở thuê cọc gỗ cho T không biết đây là tài sản do T trộm cắp mà có nên hành vi không cấu thành tội phạm, không đề nghị xử lý trách nhiệm hình sự.
Đối với Nguyễn Văn H1 khi cho T mượn xe lôi không biết T dùng xe để chở máy bơm nước do T trộm cắp nên hành vi không cấu thành tội phạm, không đề nghị xử lý trách nhiệm hình sự.
Đối với Trịnh Văn V khi cho T mượn tài khoản để ông L2 chuyển tiền không biết đây là tiền T bán tài sản do Trộm cắp mà có nên hành vi không cấu thành tội phạm, không đề nghị xử lý trách nhiệm hình sự.
Đối với Trương Văn T3 khi T nhờ thuê xe ba gác chở cọc gỗ cũng không biết là do T trộm cắp nên hành vi không cấu thành tội phạm, không đề nghị xử lý trách nhiệm hình sự.
[4]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương, các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành bị pháp luật cấm nhưng chỉ vì cần tiền tiều xài cá nhân nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp nên phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi mình gây ra.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn; các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có sự phân công, phân nhiệm và cấu kết chặt chẽ mà bộc phát thực hiện hành vi phạm tội. Trong 04 lần trộm cắp tài sản thì T đều là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm đối với các lần phạm tội của mình. Đối với bị cáo H chỉ là người chỉ dẫn cho bị cáo T phạm tội và chỉ dẫn cho L1 và T lấy đầu máy bơm của bị hại Nguyễn Đình Q mà không trực tiếp trộm cắp tài sản nên là đồng phạm với vai trò thứ yếu là giúp sức trong lần phạm tội ngày 22/5/2024 và ngày 24/5/2024 với tài sản chiếm đoạt trị giá 2.395.825 đồng.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Đối với bị cáo Đoàn Công T, 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, bị TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xử phạt 09 tháng tù theo Bản án số 65/2022/HSST ngày 04/11/2022. T đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/5/2023, tuy nhiên, căn cứ quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự thì T chưa được xoá án tích. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có tiền sự: ngày 03/12/2021 bị Công an xã L, huyện L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC với số tiền 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”, T chưa chấp hành nộp phạt. Nhân thân: Ngày 13/7/2022 bị TAND huyện Lộc Ninh ban hành Quyết định số 142022QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 20 tháng. Tuy nhiên, bị cáo đã tỏ thái độ ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Trần Minh H là đồng phạm với vai trò thứ yếu, giúp sức; không trực tiếp phạm tội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có tiền sự: ngày 29/3/2024 bị UBND xã T, huyện H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 52/QĐ-XPHC về hành vi “Trộm cắp tài sản”, H đã chấp hành nộp phạt nên H biết rõ việc Trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, cho thấy bị cáo vẫn chưa có ý thức chấp hành pháp luật, coi thường tài sản của người khác nền cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo rèn luyên bản thân. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại theo yêu cầu nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[6]. Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ; phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Các vật chứng khác, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý đúng trình tự, thủ tục; các bị cáo và các bị hại, người liên quan khác không ý kiến, khiếu nại nên hợp pháp.
[7]. Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Nguyễn Đình Q đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt, đã được gia đình Trần Minh H bồi thường số tiền 1.000.000đ và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Bị hại Lưu Văn S: đã nhận lại được tài sản 13 cọc gỗ và 13.2 kg kẽm gai. Anh S yêu cầu Đoàn Công T bồi thường tiền kẽm gai và tiền công dựng hàng rào với tổng số tiền là 1.600.000đ, tại phiên tòa bị cáo T cũng đồng ý bồi thường nên ghi nhận.
Bị hại ông Đặng Văn M đã nhận lại được tài sản và không yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét.
- Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy Cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 06/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo Đoàn Công T và Trần Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ pháp luật và tại phiên tòa nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận.
[8]. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Đoàn Công T, Trần Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt các bị cáo Đoàn Công T (Bờm) mức án 01 (Một) năm 08 (T4) tháng tù. Thời hạn tính tù từ ngày 24/5/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt các bị cáo Trần Minh H (C) mức án 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tính tù từ ngày 16/7/2024.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng vụ án:
+ Đối với 01 (một) xe ba gác (ba bánh) nhãn hiệu YINXIANG, màu xám, BKS: 61L6 – 1178, số máy: 164ML21L005728, số khung: HKZ005728 và 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 93T5-2542 quá trình xác minh, tra cứu số khung, số máy và đăng ký xe thì chưa xác định được chủ sở hữu, do vậy giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiếp tục xác minh và xử lý theo quy định pháp luật.
01 kìm kim loại, chiều dài 16,8cm lưỡi bằng kim loại màu xanh đen, rộng 2cm, cán bọc nhựa màu đen đỏ vàng, trên cán có ghi dòng chữ “MEINFA, Asaki” rộng 5,3cm, tình trạng đã cũ không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định. (Vật chứng là kìm kim loại được chuyển cùng Bản án đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản theo quy định khi Bản án có hiệu lực pháp luật).
Các vật chứng khác quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý đúng trình tự, thủ tục nên không tiếp tục xử lý.
- Về vấn đề dân sự: Áp dụng các Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận sự thống nhất giữa bị cáo Đoàn Công T và bị hại Lưu Văn S về yêu cầu Đoàn Công T bồi thường tiền kẽm gai và tiền công dựng hàng rào. Buộc bị cáo Đoàn Công T phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Lưu Văn S với tổng số tiền là 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm nghì đồng).
Các nội dung khác về vấn đề dân sự đã giải quyết xong nên không tiếp tục giải quyết.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, các điều 23 và 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Đoàn Công T, Trần Minh H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Đoàn Công T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Học |
Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 80/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
