TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 80/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30-8-2024. V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. | |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Mẫn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Hoa Lài
- Ông Trần Văn Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành A.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành A xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 114/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 197/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H
- Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Út E
- Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Út E tự quen biết, sau một thời gian tìm hiểu thì tự nguyện tiến tới hôn nhân, cả hai có tổ chức lễ cưới tại địa phương và thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang vào ngày 18/01/2010. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến tháng 9/2023 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh Út E có người phụ nữ khác bên ngoài, chị đã từng tạo điều kiện cho anh Út E thay đổi nhưng vẫn vậy. Nay chị nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Út E.
Về con chung: Chị và anh Út E chung sống với nhau có 03 con chung tên Nguyễn Ngọc H1, giới tính: Nữ, sinh ngày 17/3/2010, Nguyễn Ngọc H2, giới tính: Nữ, sinh ngày 10/8/2014 và Nguyễn Trọng Đ, giới tính: Nam, sinh ngày 05/9/2022, hiện tại các con đang sống với chị, chị yêu cầu được nuôi dưỡng các con chung, yêu cầu anh Út E phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho mỗi cháu.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu.
Bị đơn anh Nguyễn Văn Út E trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Nguyễn Thị H về quan hệ hôn nhân, con chung là đúng. Thời gian chung sống có phát sinh mâu thuẫn do trong thời gian anh nuôi cha bệnh tại bệnh viện có quen chị nuôi bệnh chung và có điện thoại hỏi thăm qua lại nhưng vợ anh cho rằng anh ngoại tình nên nộp đơn ly hôn, anh không muốn ly hôn nên không thống nhất theo yêu cầu của chị H.
Về con chung: có 03 con chung tên Nguyễn Ngọc H1, giới tính: Nữ, sinh ngày 17/3/2010, Nguyễn Ngọc H2, giới tính: Nữ, sinh ngày 10/8/2014 và Nguyễn Trọng Đ, giới tính: Nam, sinh ngày 05/9/2022, anh có yêu cầu được nuôi dưỡng các con, nếu chị H nuôi con anh không đồng ý cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu.
Tại phiên toà: Chị Nguyễn Thị H phát biểu giữ nguyên yêu cầu được ly hôn và đồng ý giao các con chung cho anh Nguyễn Văn Út E được nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn Út E không thống nhất ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp. Căn cứ theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, Toà xác định mối quan hệ pháp luật tranh chấp cần phải giải quyết trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết. Bị đơn trong vụ án là anh Nguyễn Văn Út E, hiện tại có nơi cư trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Châu Thành A.
Về nội dung tranh chấp:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Út E chung sống với nhau có tổ chức lễ cưới và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang theo quy định nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Chị H yêu cầu ly hôn vì cho rằng chị và anh Út E chung sống phát sinh mâu thuẫn do anh Út E có mối quan hệ với người phụ nữ khác và thường hay nhắn tin qua lại, anh Út E thì không thống nhất ly hôn, Tòa đã mở phiên hòa giải để tạo điều kiện cho anh, chị được đoàn tụ nhưng không thành. Xét quan hệ hôn nhân phải dựa trên nền tảng thương yêu, tôn trọng, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau tạo lập gia đình hạnh phúc nhưng chị H cho rằng không thể hàn gắn và kiên quyết yêu cầu được ly hôn, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Út E.
- Về con chung: Chị H và anh Út E đều có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Xét thấy: Chị H và anh Út E sống với nhau có 03 con chung tên Nguyễn Ngọc H1, giới tính: Nữ, sinh ngày 17/3/2010, Nguyễn Ngọc H2, giới tính: Nữ, sinh ngày 10/8/2014 và Nguyễn Trọng Đ, giới tính: Nam, sinh ngày 05/9/2022, hiện tại các con đang sống chung với chị H. Do cháu H1 và cháu H2 đã trên 7 tuổi, theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình thì việc giao cháu cho ai được trực tiếp nuôi dưỡng phải xem xét nguyện vọng của cháu và tại Bản tự khai của cháu H1 và cháu H2 thể hiện nếu cha mẹ không sống chung nữa thì các cháu có nguyện vọng được sống với mẹ. Tuy nhiên tại phiên tòa chị H và anh Út E thỏa thuận thống nhất giao các con chung cho anh Út E nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Về tài sản chung: Không có nên không giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nên không giải quyết
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 150 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí kèm theo.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Út E.
- Về con chung: Giao các con chung tên Nguyễn Ngọc H1, giới tính: Nữ, sinh ngày 17/3/2010, Nguyễn Ngọc H2, giới tính: Nữ, sinh ngày 10/8/2014 và Nguyễn Trọng Đ, giới tính: Nam, sinh ngày 05/9/2022 cho anh Nguyễn Văn Út E được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị H chưa phải cấp dưỡng nuôi con do anh Út E không yêu cầu.
- Chị Nguyễn Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản chung: Không có nên không giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nên không giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Chuyển 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu số 0004609 ngày 19/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành án phí. Chị H không phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 30/8/2024.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Mẫn |
Bản án số 80/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 80/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận cho chị H được ly hôn với ông E
