Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHƯỚC LONG

TỈNH BẠC LIÊU

Bản án số: 80/2024/DS -ST

Ngày 29/8/2024.

V/v tranh chấp hụi.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Quách Thanh Tồn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Phước;
  2. Ông Trần Thanh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Bà Lý Thị Nhiên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 23/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 274/2024/QÐST- DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 334/QÐST-DS ngày 12/8/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1976;
  2. Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu;

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn G (G1), sinh năm 1970.
  4. Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

  5. Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ hợp pháp của bị đơn bà Huỳnh Thị C:
    1. Ông Nguyễn Văn G (G1), sinh năm 1970 (Chồng bà C).
    2. Chị Nguyễn Thị Tú L, sinh năm 2007(con ruột bà C).
    3. Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

    4. Chị Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1996 (con ruột bà C).
    5. Địa chỉ: số nhà A, Khóm M, Phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

    6. Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 2001(con ruột bà C).
    7. Địa chỉ: ấp T, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

Bà T, ông G (Giảng) và chị N có đơn xin vắng mặt, các đương sự còn lại vắng mặt lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà tham gia chơi hụi do ông Nguyễn Văn G và vợ là bà Huỳnh Thị C làm chủ hụi, cụ thể: Dây hụi mùa, 04 tháng khui 01 lần, khui vào ngày 25 tháng 12 năm 2018 âm lịch, loại hụi 5.000.000 đồng/ 1 chưng, dây hụi này có 15 chưng, bà tham gia 01 chưng hụi, bà đóng hụi đến khi mãn hụi 14 lần bằng tổng số tiền 70.000.000 đồng, nhưng vợ chồng bà C, ông G chưa chung tiền hụi cho bà rồi tuyên bố bễ hụi. Đến tháng 3 năm 2023 bà với ông G, bà C thỏa thuận trừ cấn tiền hụi tháng bà thiếu bà C, ông G số tiền 10.000.000 đồng nên bà C, ông G hiện tại còn thiếu bà số tiền 60.000.000 đồng. Bà T yêu cầu ông G (Giảng) và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà C trả tiền hụi tổng số tiền 60.000.000 đồng, không yêu cầu tính tiền lãi.

Bị đơn ông Nguyễn Văn G (Giảng) có lời khai trình bày: Ông thừa nhận trước đây ông và vợ là bà Huỳnh Thị C có thiếu tiền hụi bà Nguyễn Thị T tổng số tiền 60.000.000 đồng, đến nay vẫn chưa trả, hiện tại bà C đã chết. Nay ông G1 đồng ý trả cho bà T số tiền hụi 60.000.000 đồng, nhưng xin cho ông trả từ từ nhiều lần.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà C, chị Nguyễn Thị Cẩm N có lời khai trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông Nguyễn Văn G1.

Đại diện của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long trình bày quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu còn trễ theo quy định pháp luật; Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn là đúng theo quy định của luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa chấp hành quy định của khoản 15, 16 Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự, tuyên bố đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của bà T yêu cầu những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà C gồm các con ruột của bà C trả tiền hụi số tiền 60.000.000 đồng.

+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, buộc ông G có nghĩa vụ trả cho bà T tiền nợ hụi 60.000.000 đồng.

+ Về án phí: ông G phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu đề xuất của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị T kiện ông Nguyễn Văn G (Giảng), bà Huỳnh Thị C về Tranh chấp hụi tại Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu và Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại Điều 26; Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bà T, ông G (Giảng), chị N có đơn xin vắng mặt, chị L và chị H vắng mặt lần 2 tại phiên xét xử nên việc xét xử vắng tất cả các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Theo đơn khởi kiện, bà Nguyễn Thị T yêu cầu bà Huỳnh Thị C, ông Nguyễn Văn G (Giảng) trả tiền hụi số tiền 60.000.000 đồng, không yêu cầu tính tiền lãi và đã được Toà án nhân dân huyện Phước Long thụ lý vụ án vào ngày ngày 12 tháng 01 năm 2024. Tuy nhiên, đến ngày 25 tháng 01 năm 2024 bà Huỳnh Thị C chết (thể hiện qua Trích lục khai tử ngày 29/01/2024 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu) và Toà án đã đưa những người kế thừa quyền, nghĩa vụ hợp pháp của bà C gồm: ông Nguyễn Văn G (Giảng) là chồng của bà C; chị Nguyễn Thị Cẩm N, chị Nguyễn Thị Kim H và chị Nguyễn Tú L là con ruột của bà C vào tham gia tố tụng.

[2.2] Ngày 08/8/2024 nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu những người kế thừa quyền, nghĩa vụ hợp pháp của bà C gồm những người con ruột của bà C gồm chị Nguyễn Thị Cẩm N, chị Nguyễn Thị Kim H và chị Nguyễn Tú L trả tiền nợ hụi số tiền 60.000.000 đồng. Xét thấy, việc bà T rút một phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự tuyên bố đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc đòi những người kế thừa quyền, nghĩa vụ hợp pháp của bà C là những người con ruột của bà C gồm chị chị Nguyễn Thị Cẩm N, chị Nguyễn Thị Kim H và chị Nguyễn Tú L trả tiền nợ hụi số tiền 60.000.000 đồng.

[2.3] Hiện tại bà Nguyễn Thị T chỉ yêu cầu ông Nguyễn Văn G (Giảng) trả tiền hụi số tiền 60.000.000 đồng. Xét thấy, cả bà T và ông G1 đều có lời khai thống nhất hiện tại ông G (G1) còn thiếu bà T tổng số tiền hụi số tiền 60.000.000 đồng, đồng ý trả cho bà T số tiền 60.000.000 đồng, sự thừa nhận của đương sự là tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2.4] Từ những chứng cứ nêu trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T. Buộc ông Nguyễn Văn G (G1) trả tiền hụi tổng số tiền 60.000.000 đồng.

[3] Về án phí xét xử dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn G (G1) phải nộp số tiền 3.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị T1 đã tạm ứng án phí số tiền 1.500.000 đồng theo biên lai số 0006568 ngày 12/01/2024 sẽ được hoàn lại tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; Điều 35 và Điều 39, điểm c khoản 1 Điều 217 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 280, Điều 471 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ vào Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đòi những người kế thừa quyền, nghĩa vụ hợp pháp của bị đơn bà Huỳnh Thị C là những người con ruột của bà C gồm chị Nguyễn Thị Cẩm N, chị Nguyễn Thị Kim H và chị Nguyễn Tú L trả tiền nợ hụi số tiền 60.000.000 đồng.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T yêu cầu ông Nguyễn Văn G (G1) trả tiền nợ hụi tổng số tiền 60.000.000 đồng.
  3. Buộc ông Nguyễn Văn G (G1) có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị T tiền nợ hụi tổng số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).

    Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

  4. Về án phí xét xử dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn G (G1) phải nộp số tiền 3.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị T1 đã tạm ứng án phí số tiền 1.500.000 đồng theo biên lai số 0006568 ngày 12/01/2024 sẽ được hoàn lại tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6, quyền và nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a và 7b; tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm dân sự công khai vắng mặt các đương sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Quách Thanh Tồn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/DS -ST ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 80/2024/DS -ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Thuỷ yêu cầu trả tiền hụi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger