Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN H

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20/8/2024.

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Danh On.
  2. Ông Lại Thiện Phong.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Hoàng Kha, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Kha - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 116/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Huỳnh Trung N, sinh năm 1987 (có mặt).
  • Địa chỉ: Ấp Kg, xã L, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
  • - Bị đơn: Chị Võ Thị Mỹ D, sinh năm 1992 (vắng mặt).
  • Đăng ký thường trú: Ấp K, xã L, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
  • Địa chỉ hiện nay: Ấp T, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 4 năm 2024 và lời khai tại Tòa án nguyên đơn anh Huỳnh Trung N trình bày: Anh và chị Võ Thị Mỹ D xây dựng hôn nhân với nhau vào năm 2011 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Quá trình chung sống, anh chị có 02 người con chung là cháu Huỳnh Tường V, sinh ngày 13 tháng 12 năm 2011 và cháu Huỳnh Tuấn K, sinh ngày 19 tháng 3 năm 2014. Hiện nay, hai cháu đang sống cùng anh. Quá trình chung sống, anh và chị D không có tài sản chung, cũng không nợ tiền, tài sản của bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức tín dụng nào.

Quá trình chung sống, anh và chị D không cùng quan điểm sống nên phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau khiến tình cảm vợ chồng rạn nứt không thể hàn gắn được. Đồng thời, anh chị cũng đã ly thân từ khoảng tháng 02 năm 2023 đến nay và không có biện pháp gì hàn gắn mối quan hệ vợ chồng.

Vì vậy, anh yêu cầu được ly hôn với chị D. Về con chung, anh yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu V và cháu K. Anh không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn chị Võ Thị Mỹ D từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa xét xử, chị D đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án để trình bày ý kiến, Tòa án có đến nhà chị D để tiến hành lấy lời khai nhưng không gặp chị D nên Tòa án không ghi nhận được lời khai của chị D.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu trình bày việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh N đối với chị D. Về con chung, giao cháu Huỳnh Tường V, sinh ngày 13 tháng 12 năm 2011 và cháu Huỳnh Tuấn K, sinh ngày 19 tháng 3 năm 2014 cho anh Huỳnh Trung N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, anh N không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, anh N phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thẩm quyền: Anh Huỳnh Trung N nộp đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu xin ly hôn với chị Võ Thị Mỹ D. Khi khởi kiện chị D cư trú tại ấp T, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện H thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về tố tụng: Chị Võ Thị Mỹ D đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập của Tòa án nhưng vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị D theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Về hôn nhân: Anh Huỳnh Trung N và chị Võ Thị Mỹ D tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã L cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 31/2011 ngày 08 tháng 3 năm 2011 nên hôn nhân giữa anh Nhân và chị D là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
  4. Anh Huỳnh Trung N xác định quá trình chung sống, anh và chị D không cùng quan điểm sống nên phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau khiến tình cảm vợ chồng rạn nứt không thể hàn gắn được. Đồng thời, anh và chị D đã sống ly thân từ khoảng tháng 02 năm 2023 đến nay và không có biện pháp gì hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Tại biên bản xác minh ngày 30 tháng 7 năm 2024, bà Phạm Thị N là mẹ ruột của chị D xác định giữa chị D và anh N có xảy ra mâu thuẫn nên từ ngày 10/01/2024 (âm lịch), chị D bỏ đi làm xa và sống ly thân với anh N cho đến nay. Khi Toà án tống đạt các văn bản tố tụng thì bà có liên hệ với chị D qua điện thoại nhưng chị D đi làm xa không về được, chị D đồng ý ly hôn và đồng ý giao con cho anh N. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân giữa anh N và chị D đã không còn hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được, khả năng đoàn tụ không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, chị D biết anh N yêu cầu ly hôn nhưng không đến Tòa án trình bày ý kiến và cũng không thể hiện thiện chí mong muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng với anh N, điều này thể hiện thông qua việc Tòa án đã nhiều lần triệu tập chị D để hòa giải, xét xử nhưng chị D có thái độ bỏ mặc không đến hòa giải và xét xử. Do đó, anh N yêu cầu được ly hôn với chị D là có căn cứ, phù hợp với quy định khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
  5. Về con chung: Quá trình chung sống, anh N và chị D có hai người con chung là cháu Huỳnh Tường V, sinh ngày 13 tháng 12 năm 2011 và cháu Huỳnh Tuấn K, sinh ngày 19 tháng 3 năm 2014. Hiện nay, hai cháu đang sống cùng anh N. Khi ly hôn anh N yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu V, cháu K. Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi là phải xem xét toàn diện, đảm bảo điều kiện cho con chưa thành niên. Từ khi ly thân đến nay, cháu V và cháu K sống cùng anh N, anh N vẫn chăm sóc các cháu tốt, phát triển bình thường. Cháu V và cháu K cũng có nguyện vọng sống chung với anh N theo biên bản ghi nhận ý kiến ngày 15 tháng 8 năm 2024. Do vậy, cần tiếp tục giao cháu V và cháu K cho anh N trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, anh N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Chị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
  6. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Huỳnh Trung N xác định quá trình chung sống, anh và chị D không có và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
  7. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình: Anh Huỳnh Trung N phải chịu theo quy định của pháp luật.
  8. Từ những phân tích trên chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H Dân.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, các Điều 53, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Huỳnh Trung N đối với chị Võ Thị Mỹ D. Xử cho anh Huỳnh Trung N được ly hôn với chị Võ Thị Mỹ D.
  2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Tường V, sinh ngày 13 tháng 12 năm 2011 và cháu Huỳnh Tuấn K, sinh ngày 19 tháng 3 năm 2014 cho anh Huỳnh Trung N tiếp tục trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

    Chị Võ Thị Mỹ D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Huỳnh Trung N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu giải nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình: Anh Huỳnh Trung N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), anh Huỳnh Trung N đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu số 0007637 ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H được chuyển thu án phí.
  5. Đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND huyện H;
  • - THADS huyện H;
  • - UBND xã L, huyện H;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Lệ Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 80/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger