Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/DS-PT

Ngày: 12/7/2024

V/v: “Tranh chấp QSD đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hòa.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Bình.

Ông Hoàng Ngọc Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hiền - Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Bà Nguyễn Thị Anh-

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 95/2023/TLPT- DS ngày 15/3/2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2024/DS-ST ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 100/2024/QĐ-PT ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đăng T, sinh năm 1953 (có mặt).

Địa chỉ: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

- Bị đơn: Bà Viêm Thị T1, sinh năm 1939 (có mặt).

Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1971 (có mặt).

Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1975 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Khu T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1968 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khu S, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh;

Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1973 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn M, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1980 (vắng mặt).
  2. Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1982 (vắng mặt).
  3. Anh Nguyễn Đăng T3, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

  1. UBND phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H1 – Chức vụ: Chủ tịch (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Người kháng cáo: Bị đơn anh Nguyễn Văn V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:

Nguyên đơn là ông Nguyễn Đăng T trình bày: Ông và vợ chồng ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1938, chết năm 2020 và bà Viêm Thị T1, sinh năm 1939 là chỗ quan hệ họ hàng. Đầu năm 2003, ông được biết vợ chồng ông H2, bà T1 có nhu cầu bán một phần diện tích đất nằm trên thửa đất số 18, tờ bản đồ số 02 tại thôn T, xã N, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh (nay là khu T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh) để mua xe ô tô cho con trai kinh doanh vận tải nhưng sau đó ông H2 không mua ô tô nữa mà dùng số tiền bán đất để xây dựng nhà ở. Ông và vợ chồng ông H2 đã thỏa thuận về việc mua bán đất đai. Sau khi thống nhất, ngày 04/4/2003 tại Ủy ban nhân dân xã N hai bên đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nội dung: Vợ chồng ông bà H2- Tảo chuyển nhượng cho ông 451m² đất nằm tại thửa đất số 18, tờ bản đồ só 02 có kích thước các cạnh là (11x41)m, giá chuyển nhượng ghi tại hợp đồng là 6.500.000đ, giá thanh toán thực tế là 85.690.000đ. Trước và sau khi ký hợp dồng do là chỗ quan hệ họ hàng nên hai bên không tiến hành đo đạc và bàn giao đất trên thực địa song ông đã thanh toán đủ tiền mua đất cho vợ chồng ông H2. Việc ông trả tiền cho ông H2 có giấy biên nhận giữa ông và ông H2 và có sự chứng kiến của con trai ông H2 bà T1 là anh V và sự chứng kiến của bạn ông là bà H3. Vợ chồng ông H2 cũng đã tiến hành làm thủ tục tách thửa, đăng ký biến động về đất đai. Ngày 11/8/2003, ông được Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 156, tờ bản đồ số 02, diện tích 451m² tại T, N, Q. Thửa đất này tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Nguyễn Đăng T. Tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ gia đình ông gồm bốn thành viên là ông và ba con ông là chị O, chị Q, anh T3. Sau khi nhận chuyển nhượng và được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chưa có nhu cầu sử dụng nên ông không xây dựng công trình gì. Đến năm 2016, khi ông có ý định quây lại toàn bộ diện tích đất đã nhận chuyển nhượng thì ông phát hiện trên phần đất của ông đã nhận chuyển nhượng gia đình ông H2 đã xây tường bao quanh. Ngoài ra, gia đình ông H2 còn làm công trình phụ như bếp, cổng, sân sang một phần diện tích đất của gia đình ông. Ông đã yêu cầu gia đình ông H2 tháo dỡ công trình và trả lại ông phần diện tích đất nhưng gia đình ông H2 không đồng ý mà còn có hành vi cản trở ông. Ông đã nộp đơn khởi kiện nhiều lần lên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh nhưng sau đó ông lại rút đơn khởi kiện để hai bên hòa giải nhưng không được. Do vậy, nay ông khởi kiện đề nghị Tòa án buộc những người thừa kế của ông H2 là bà T1 cùng các con là anh V, chị B, chị H, anh T2 phải tháo dỡ các ông trình xây dựng trả lại cho ông diện tích đất 451m² có kích thước các cạnh rộng 11m, dài 41m có địa chỉ tại khu T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm ông T yêu cầu trả ông theo diện tích đo đạc thực tế là 403,4m².

Bị đơn là anh Nguyễn Văn V trình bày: Năm 2003 bố mẹ anh có chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đăng T một phần diện tích đất của gia đình có địa chỉ tại T, N, thành phố B. Theo anh V kích thước thửa đất bố mẹ anh chuyển nhượng cho ông T có chiều rộng là 8m chứ không phải 11m như ông T nêu. Tuy nhiên, trong một số bản khai và đơn trình bày, anh V lại trình bày: Không có việc mua bán chuyển nhượng đất giữa bố mẹ anh với ông T. Nếu ông T chứng minh được việc bố anh là ông H2 khi còn sống có chuyển nhượng cho ông T và việc chuyển nhượng là hợp pháp thì anh và gia đình anh sẵn sàng cắt đất trả cho ông T.

Bà Viêm Thị T1 trình bày: Bà là vợ ông Nguyễn Văn H2. Khi còn sống bà có nghe ông H2 nói có bán đất cho ông T còn thủ tục mua bán đất giữa ông H2 với ông T thế nào bà không nắm được. Bản thân bà không biết đọc, biết viết.

Các bị đơn khác là chị B, chị H, anh T2 trong quá trình tố tụng đã được Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt, không hợp tác và không đến làm việc.

Từ những nội dung trên bản án sơ thẩm đã căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 143, 144, 147, 156, 157, 164, 165, 227, 228, 235, 264, 271, 273 của BLTTDS; Điều 13, 116, 117, 118, 119, 130, 131, 133, 149, 150, 175,176 242, 264, 690, 691, 692. 693, 696, 698, 705, 706, 707, 708, 709, 711, 712, 713 của BLDS 1995; Các Điều 161, 163, 164, 166, 175, 176, 221 của BLDS 2015; Điều 3, Điều 33, Điều 73 Luật đất đai 1993; Điều 166, 167 Luật đất đai 2013; Điều 2, 3, 8 Nghị định số 17/1999/ NĐ- CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ "Qui định thủ tục chuyển đổi, chuyến nhượng, cho thuệ, cho thuê lại, thừa kế, thể chấp quyền sử dụng đất"; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về múc thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đăng T.

1. Buộc bà Viêm Thị T1 cùng các con là anh Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Văn T2, chị Nguyễn Thị B, chị Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ tháo dỡ tường bao và phần diện tích các công trình đã xây dựng trên đất như cổng, sân, công trình phụ để trả cho ông Nguyễn Đăng T thửa đất số 156, tờ bản đổ 02 đã được UBND huyện Q cấp giấy chứng ngày 11/8/2003 (nay là thửa số 35, tờ bản đồ số 24) có địa chỉ tại: Khu T, phường N, thành phố B có diện tích đo đạc thực tế trên thực địa là 403,4m² có vị trí và kích tứ cận như sau: Phía Tây giáp đường đi chung dài: 11m; Phía Đông giáp ngõ đi chung có kích thước các canh là: (9,84m + 1,16)m; Phía Nam giáp đất nhà ông L, ông P có kích thước các cạnh là: (5,48+ 19,05 + 15,11)m; Phía Bắc giáp thửa đất số 23 và thửa đất số 24, tờ bản đồ 24 có kích thước dài: 40,94m (có sơ đồ chi tiết kèm theo).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản, án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xử sơ thẩm, ngày 02/02/2024, bị đơn là anh Nguyễn Văn V kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn là anh Nguyễn Văn V giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, xử sửa bản án sơ thẩm về phần tuyên lãi suất chậm trả đối với số tiền xem xét thẩm định và định giá tài sản; Đối với quan hệ tranh chấp cần xác định là kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất. Về án phí: Do bản án sơ thẩm bị sửa nên anh V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Nguyễn Văn V nộp trong hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng nên được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.

[2]. Về nội dung: Theo nguyên đơn là ông Nguyễn Đăng T trình bày thửa đất số 156, tờ bản đồ số 02 nay là thửa số 35, tờ bản đồ số 24, diện tích 451m² (theo đạc thực tế là 403,4m²) có địa chỉ tại khu T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh đã được Ủy ban nhân dân huyện Q (nay là thị xã Q) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Đăng T vào năm 2003 là do ông nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn H2, bà Viêm Thị T1. Sau đó, do chưa có nhu cầu sử dụng nên ông vẫn để trống thửa đất này. Đến năm 2016, ông có nhu cầu sử dụng thửa đất thì mới phát hiện thửa đất của ông đã bị bà T1 cùng các con của bà T1, ông H2 quây tường bao cũng như xây dựng một số công trình phụ trên phần đất ông đã nhận chuyển nhượng. Do vậy, ông khởi kiện đề nghị Tòa án buộc bà T1 cùng các con là anh V, chị B, chị H, anh T2 phải tháo dỡ công trình xây dựng trả lại cho ông 451m² đất đã nhận chuyển nhượng tại khu T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Bản án sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Sau khi bản án sơ thẩm xử, bị đơn là anh Nguyễn Văn V kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án. Xét kháng cáo của anh V Hội đồng xét xử thấy: Thửa đất số 18, tờ bản đồ số 2, diện tích 898m² được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn H2 ngày 12/9/1996. Năm 2003, ông H2, bà T1 có chuyển nhượng một phần thửa đất này cho ông Nguyễn Đăng T. Khi chuyển nhượng giữa hai bên có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng này được Ủy ban nhân dân xã N công chứng, chứng thực theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi nhận chuyển nhượng đối với phần diện tích đất này ông T đã được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Nguyễn Đăng T đối với thửa đất số 156, tờ bản đồ số 02, diện tích 451m² tại thôn T, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh vào ngày 11/8/2003. Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký giữa ông T với ông H2, bà T1 Hội đồng xét xử thấy: Hợp đồng chuyển nhượng về hình thức lập đúng quy định của pháp luật đã được công chứng, chứng thực. Về nội dung: Phần diện tích đất mà ông T nhận chuyển nhượng của ông H2, bà T1 nằm trong thửa đất số 18, tờ bản đồ số 02, diện tích 898m² tại thôn T, xã N, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn H2. Theo bị đơn là anh V trình bày thì tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia đình bao gồm bố mẹ anh và năm anh chị em anh nhưng anh V không có đưa ra được căn cứ nào cho lời trình bày của mình. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác minh tại công an phường N, công an thành phố B, công an huyện Q về số nhân khẩu của gia đình ông H2 tại thời điểm năm 1996 nhưng các cơ quan này đều trả lời không cung cấp được hộ khẩu của gia đình ông H2 có bao nhiêu thành viên, cụ thể là ai, tên gì, sinh năm nào. Tại đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông H2 đại diện đề nghị cấp giấy chứng nhận cho gia đình ông thì trong đơn chỉ ghi số nhân khẩu là 5 nhưng không ghi rõ tên tuổi của từng thành viên. Việc ông H2 bán đất để lấy tiền xây nhà cho gia đình là để phục vụ nhu cầu của gia đình nên việc anh V cho rằng mẹ anh và các anh chị em anh không biết là không có cơ sở. Mặt khác, theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 thì: “Chủ hộ gia đình là đại diện cho hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ; giao dịch do người đại diện của hộ gia đình xác lập thực hiện vì lợi ích chung làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của cả hộ gia đình; hộ gia đình phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh hộ gia đình”. Như vậy, việc ông H2, bà T1 ký hợp đồng chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất là để phục vụ cho nhu cầu của gia đình nên hợp đồng này theo quy định của pháp luật tuy các thành viên trong hộ gia đình ông H2 không ký hết nhưng vẫn có hiệu lực pháp luật.

Theo các tài liệu do đương sự cung cấp cũng như Tòa án thu thập được thì thấy ngày 01/4/2003 ông Nguyễn Văn H2 có đơn xin đăng ký biến động về đất đai gửi Ủy ban nhân dân huyện Q với nội dung đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Q cho ông được chuyển nhượng 451m² đất của thửa đất số 18, tờ bản đồ số 02 tại T, N, Q, Bắc Ninh cho ông Nguyễn Đăng T. Như vậy, có thể thấy tại đơn xin đăng ký biến động này ông H2 đã thể hiện ý chí chuyển nhượng một phần diện tích đất cho ông T và đến ngày 04/4/2003 giữa ông H2, bà T1 với ông T đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Bản thân bà T1, anh V tại lời trình bày lúc thừa nhận có chuyển nhượng cho ông T một phần quyền sử dụng đất lúc lại không thừa nhận. Tuy nhiên, lời trình bày này của bà T1, anh V là không có căn cứ để chấp nhận.

Đối với kháng cáo của anh V cho rằng mẹ anh là bà T1 không biết chữ nhưng anh V cũng không có căn cứ nào chứng minh cho lời trình bày này của mình. Hơn nữa, như đã phân tích ở trên ông H2 chuyển nhượng đất cho ông T là để lấy tiền xây nhà phục vụ cho mục đích chung của gia đình. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh V không đề nghị giám định chữ ký của anh trong giấy nhận tiền. Đối với bà T1 anh V xác định bà T1 không biết chữ cũng không ký để giám định được.

Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông H2, bà T1 thì ông T đã được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nhận chuyển nhượng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này của ông T có giá trị pháp luật nên ông T có quyền sử dụng đối với thửa đất. Việc gia đình ông H2 xây dựng công trình trái phép trên phần diện tích đất này cũng như cản trở việc ông T sử dụng đất của mình là hành vi trái pháp luật. Do đó, bản án sơ thẩm xử buộc bà T1 cùng anh V, anh T2, chị B, chị H có nghĩa vụ phải tháo dỡ tường bao và phần diện tích các công trình đã xây dựng trên phần đất của ông T để trả lại thửa đất cho ông T là có căn cứ đúng quy định của pháp luật nên cần bác kháng cáo của anh V.

Tuy nhiên, bản án sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp quyền sử dụng đất chưa chính xác. Bởi thửa đất đang tranh chấp ông T đã được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông T là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất. Hiện nay, thửa đất này của ông T đang bị bà T1 cùng anh V, anh T2, chị B, chị H xây dựng các công trình trái phép trên đất cũng như có hành vi cản trở ông T thực hiện các quyền của chủ sử dụng đất nên ông T khởi kiện đề nghị Tòa án buộc bà T1 cùng anh V, anh T2, chị B, chị H phải phá dỡ các công trình xây dựng trái phép trên thửa đất và trả lại cho ông T thửa đất thì phải xác định quan hệ pháp luật là kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất chứ không phải là tranh chấp quyền sử dụng đất như đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ. Việc xác định sai quan hệ pháp luật không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nhưng Tòa án cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm về vấn đề này.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả đối với số tiền chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn là không đúng quy định của pháp luật nên cần sửa bản án sơ thẩm về phần tuyên này.

Do bản án sơ thẩm bị sửa nên anh V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm xử.

Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 143, 144, 147, 156, 157, 164, 165, 227, 228, 235, 264, 271, 273 của BLTTDS; Điều 13, 116, 117, 118, 119, 130, 131, 133, 149, 150, 175,176 242, 264, Điều 690, 691, 692, 693, 696, 698, 705, 706, 707, 708, 709, 711, 712, 713 của BLDS 1995; Các Điều 161, 163, 164, 166, 175, 176, 221 của B1; Các Điều 3, 33, Điều 73 Luật đất đai 1993, Các Điều 166, 167 Luật đất đai 2013; Điều 2, 3, 8 Nghị định số 17/1999/ NĐ- CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ "Qui định thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất"; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đăng T.

  1. Buộc bà Viêm Thị T1 cùng các con là anh Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Văn T2, chị Nguyễn Thị B, chị Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ tháo dỡ tường bao và phần diện tích các công trình đã xây dựng trên đất như cổng, sân, công trình phụ để trả cho ông Nguyễn Đăng T thửa đất số 156, tờ bản đổ 02 đã được UBND huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/8/2003 (nay là thửa số 35, tờ bản đồ số 24) có địa chỉ tại: Khu T, phường N, thành phố B có diện tích đo đạc thực tế trên thực địa là 403,4m² có vị trí và kích tứ cận như sau: Phía Tây giáp đường đi chung dài: 11m; Phía Đông giáp ngõ đi chung có kích thước các canh là: (9,84m + 1,16)m; Phía Nam giáp đất nhà ông L, ông P có kích thước các cạnh là: (5,48+ 19,05 + 15,11)m; Phía Bắc giáp thửa đất số 23 và thửa đất số 24, tờ bản đồ 24 có kích thước dài: 40,94m (có sơ đồ chi tiết kèm theo).

Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký, kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo kết quả bản án.

  1. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bà Viêm Thị T1, anh Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Văn T2, chị Nguyễn Thị B và chị Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho ông Nguyễn Đăng T số tiền 15.000.000đ là tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và tiền định giá tài sản.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Viêm Thị T1.

Anh Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Văn T2, chị Nguyễn Thị B và chị Nguyễn Thị H cùng phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Nguyễn Văn V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả anh V 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000627 ngày của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • Các đương sự;
  • VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • TAND TP Bắc Ninh;
  • Chi cục THADS TP Bắc Ninh;
  • Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Hòa

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thanh Bình Hoàng Ngọc SơnNguyễn Quang Hòa
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/DS-PT ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 80/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QSD đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger