Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/DS-ST

Ngày 20-9-2024.

Về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Đặng Văn Khánh
  • 2. Ông Mai Văn Du

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thoảng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh T - Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 322/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 155/2024/QĐST-DS ngày 27/8/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trương Thị Y, sinh năm 1992; Địa chỉ cư trú: Số A đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Thi Thị Thanh N, sinh năm 1999; Địa chỉ cư trú: Số D T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (Giấy ủy quyền lập ngày 13/12/2023). Có mặt tại phiên tòa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Lê Thanh L - Luật sư của công ty L1 - Chi nhánh Đ thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ. Có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều A; Địa chỉ cư trú: Tổ E, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ liên hệ: Lô B đường L, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 24/11/2023, tại bản khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Bùi Thị Thanh N1 trình bày:

Trên cơ sở quen biết nhau, từ năm 2021 cho đến năm 2023, bà Trương Thị Y có cho bà Nguyễn Thị Kiều A vay tiền nhiều lần với tổng số tiền là 530.000.000 đồng (Năm trăm ba mươi triệu đồng). Khi vay bà A hứa hẹn sẽ thanh toán cho bà Y từ 01 đến 02 tháng, bà A vay tiền là để làm ăn. Sau nhiều lần khất hẹn trả tiền, ngày 09/8/2023 bà Y và bà A chốt lại số tiền còn nợ là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), bà Y đồng ý cho bà A trả dần mỗi tháng 40.000.000 đồng, thời gian bắt đầu trả là ngày 10/9/2023, thời điểm thanh toán là ngày 10 hằng tháng, thời hạn thanh toán: 10 tháng. Việc thỏa thuận này được lập thành văn bản “Giấy cho vay tiền” ngày 09/8/2023.

Tuy nhiên, sau đó bà A vẫn không thanh toán tiền cho bà Y như đã cam kết. Nay bà Y yêu cầu bà A phải trả cho bà Y số tiền nợ gốc là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) và yêu cầu bà A phải trả lãi từ ngày vi phạm là ngày 11/9/2023 cho đến nay với mức lãi suất là 10%/năm. Tổng số tiền bà Y yêu cầu bà A trả tính đến ngày 20/9/2024 bao gồm cả nợ gốc và nợ lãi là 426.093.151 đồng. Trong đó, nợ gốc là 400.000.000 đồng, nợ lãi là 26.093.151 đồng.

* Tại bản khai ngày 18/7/2024, phiên hòa giải ngày 18/7/2024 bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều A trình bày:

Bà và bà Trương Thị Y có quen biết nhau, từ ngày 10/01/2022 đến năm 2023 bà có vay tiền của bà Y nhiều lần với tổng số tiền là 490.000.000 đồng (Bốn trăm chín mươi triệu đồng), lãi suất vay từ 84-90%/năm, bà vay tiền để trả nợ. Sau khi vay, hằng tháng bà đã tiền gốc và tiền lãi cho bà Y nhiều hơn số tiền đã vay. Đến tháng 8/2023 do điều kiện kinh tế khó khăn, làm ăn thua lỗ nên bà không có khả năng trả gốc và lãi hàng tháng (39.900.000 đồng) cho bà Y. Sau đó hai bên có gặp nhau để trao đổi, bà đề nghị bà Y giảm số tiền gốc xuống còn 300.000.000 đồng nhưng bà Y không đồng ý, bà Y chỉ chấp nhận giảm tiền gốc xuống còn 400.000.000 đồng, lúc đầu bà không đồng ý nhưng sau đó bà Y có gọi cho một người đàn ông xăm trổ đến hù dọa bà phải ký vào giấy theo yêu cầu của bà Y. Bà xác nhận chữ ký trong giấy cho vay tiền lập ngày 09/8/2023 là chữ ký của bà. Tuy nhiên, khi ký là do bà Y ép buộc, do sợ hãi nên bà đã ký vào giấy vay tiền. Sau khi ký bà không báo cho cơ quan chức năng biết do sợ bà Y làm ảnh hưởng đến công việc của bà. Sau khi ký giấy vay, vào ngày 11/9/2023 bà đã chuyển khoản trả cho bà Y số tiền 30.00.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Nay bà Y yêu cầu trả số tiền nợ gốc là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) và yêu cầu bà A trả lãi từ ngày vi phạm là ngày 11/9/2023 cho đến nay với mức lãi suất 10%/năm bà không đồng ý, bà yêu cầu bà Y giảm số tiền gốc xuống còn 300.000.000 đồng (Vì bà đã trả tiền lãi cho bà Y rất nhiều với lãi suất cao), bà đã trả được 30.00.000 đồng nên bà đồng ý trả cho bà Y số tiền gốc là 270.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu đồng) và tiền lãi

với mức lãi suất 10%/năm từ ngày 11/9/2023 đến nay trên số tiền gốc 270.000.000 đồng và đề nghị được trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Lê Thanh L: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Y; buộc bà Nguyễn Thị Kiều A phải có nghĩa vụ trả cho bà Trương Thị Y số tiền nợ tính đến ngày 20/9/2024 bao gồm cả nợ gốc và nợ lãi là 426.093.151đồng. Trong đó, nợ gốc là 400.000.000 đồng, nợ lãi là 26.093.151đồng.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Đối với nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều A chưa thực hiện đúng quy định như không tham gia phiên hòa giải ngày 31/7/2024, không tham gia phiên tòa.

2. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Y đối với bà Nguyễn Thị Kiều A.

Buộc bà Nguyễn Thị Kiều A phải có nghĩa vụ trả cho bà Trương Thị Y tổng cộng số tiền nợ tính đến ngày 20/9/2024 là 426.093.151đồng. Trong đó, tiền gốc là 400.000.000 đồng, tiền lãi là 26.093.151đồng.

Án phí DSST bị đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Giữa nguyên đơn và bị đơn có xác lập giao dịch vay tài sản là tiền thông qua giấy cho vay tiền lập ngày 09/8/2023. Do vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ Luật Tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015.

[1.2] Về thẩm quyền: Bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều A có địa chỉ thường trú tại tổ E, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Đồng thời, trong giấy cho vay tiền bà A xác nhận địa chỉ cư trú là tổ E, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Do đó, căn

cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

[1.3] Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã triệu tập hợp lệ cũng như đã thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng các văn bản tố tụng của Tòa án đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều A. Tuy nhiên, bị đơn bà A vẫn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa đại điện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bà Nguyễn Thị Kiều A phải trả cho bà Trương Thị Y tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 20/9/2024 là 426.093.151đồng. Trong đó, nợ gốc là 400.000.000 đồng, nợ lãi là 26.093.151đồng.

[2.1] Xét yêu cầu trả nợ gốc 400.000.000 đồng của nguyên đơn thì thấy:

[2.1.1] Căn cứ giấy cho vay tiền lập ngày 09/8/2023 thể hiện: Bà Trương Thị Y có cho bà Nguyễn Thị Kiều A vay số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), phương thức thanh toán: Mỗi tháng 10% (Bốn mươi triệu đồng), bắt đầu: 10/9/2023, thời điểm thanh toán: Ngày 10 hàng tháng, thời hạn thanh toán: 10 tháng. Đây là hợp đồng vay có kỳ hạn, theo cam kết bà A mỗi tháng trả cho bà Y 40.000.000 đồng, bắt đầu từ ngày 10/9/2023. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà A thừa nhận chữ ký trong giấy cho vay tiền là của bà. Tuy nhiên, hàng tháng bà A không trả tiền cho bà Y như đã cam kết, đến nay đã quá thời hạn thanh toán mà bà A vẫn không trả tiền cho bà Y. Do vậy, việc bà Y yêu cầu bà A trả cho bà số tiền gốc 400.000.000đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 1 Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.1.2] Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều A cho rằng bà Y cho bà vay với lãi suất vay từ 84-90%/năm; bà đã trả tiền gốc và tiền lãi nhiều hơn số tiền bà đã vay; bà ký trong giấy cho vay tiền lập ngày 09/8/2023 là do bà Y ép buộc. Đồng thời, sau khi ký xác nhận vay của bà Y số tiền 400.000.000 đồng vào ngày 09/8/2023, thì ngày 11/9/2023 bà đã chuyển khoản trả cho bà Y được số tiền 30.00.000 đồng, nên bà đồng ý trả cho bà Y số tiền gốc là 270.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 10%/năm từ ngày 11/9/2023 đến nay trên số tiền gốc 270.000.000 đồng và đề nghị được trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng nhưng không được đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thừa nhận và bà A cũng không cung cấp được cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho lời khai trên của bà là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[2.2] Xét yêu cầu trả lãi của nguyên đơn thì thấy: Theo giấy cho vay tiền lập ngày 09/8/2023 thì đây là hợp đồng vay không có lãi, theo cam kết bà A mỗi tháng trả cho bà Y 40.000.000 đồng, bắt đầu từ ngày 10/9/2023 nhưng bà A không thực hiện. Do vậy, bà Y yêu cầu tính lãi từ ngày 11/9/2023 đến nay theo mức lãi suất 10%/năm trên số tiền chậm trả với số tiền 26.093.151đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn về việc buộc bà Nguyễn Thị Kiều A phải có nghĩa vụ trả cho bà Trương Thị Y số tiền

gốc và lãi tính đến ngày xét xử là 426.093.151 đồng, là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Tại phiên tòa, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị Kiều A phải chịu là 21.043.726đồng. Hoàn trả cho bà Trương Thị Y tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - Điều 463, khoản 1 Điều 466,khoản 1 Điều 468, khoản 1 Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 266, Điều 267, Điều 269 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Y đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều A về việc “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Xử:

  1. Buộc bà Nguyễn Thị Kiều A phải có nghĩa vụ trả cho bà Trương Thị Y số tiền nợ tính đến ngày 20/9/2024 là 426.093.151 đồng (Bốn trăm hai mươi sáu triệu không trăm chín mươi ba nghìn một trăm năm mươi mốt đồng). Trong đó, nợ gốc là 400.000.000 đồng, nợ lãi là 26.093.151 đồng.
  2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị Kiều A phải chịu là 21.043.726đồng (Hai mươi mốt triệu không trăm bốn mươi ba nghìn bảy trăm hai mươi sáu đồng). Hoàn trả cho bà Trương Thị Y số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 10.028.712 đồng (Mười triệu không trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm mười hai đồng), đã nộp tại biên lai thu số 0002793 ngày 04/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
  4. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều A vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế

thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND Q. Cẩm Lệ;
  • - CCTHADS Q.Cẩm Lệ;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lệ Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 80/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà Trương Thị Y và bà Nguyễn Thị Kiều A
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger