Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HIỆP HÒA

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 80/2024/HS-ST

Ngày 20 tháng 8 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Dương Văn Hải;

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Thế Hanh.

2. Ông Lê Văn Đô.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Đông- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2024/HSST ngày 01 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 06/8/2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Dương Văn T, sinh năm 1987; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: thôn H, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12.

Con ông Dương Văn N1, sinh năm 1966 và bà Dương Thị P, sinh năm 1967; Vợ bị cáo Nguyễn Thị D, sinh năm 1989; Bị cáo có 03 con (con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2019); Gia đình bị cáo có 03 anh em (bị cáo là con thứ nhất); Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Tại Bản án số: 105/2020/HSST ngày 30/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 28 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (Thi hành xong án phí ngày 19/10/2021, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2022).

- Ngày 01/7/2010, bị cáo bị Công an phường N, quận T, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, mức phạt 1.500.000đồng.

- Ngày 27/12/2023, Ủy ban nhân dân xã S, huyện T có quyết định cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng.

1

- Ngày 13/7/2024, bị Trưởng Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, hình thức xử phạt là Cảnh cáo.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt tại phiên toà).

2. Họ và tên: Bùi Văn Đ, sinh năm 1989; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: thôn H, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12

Con ông Bùi Văn S, sinh năm 1961 (Đã chết) và bà Dương Thị H, sinh năm 1965. Vợ bị cáo Trần Thị D1, sinh năm 1987. Bị cáo có 02 con (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2015); Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba;

Tiền án: Tại Bản án số 270/2020/HSST ngày 27/10/2020 của Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 26 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” (Đã chấp hành xong án phí ngày 26/4/2021; chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/6/2022).

Tiền sự: Không.

Nhân thân: - Ngày 13/7/2024, bị Trưởng Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, hình thức xử phạt là Cảnh cáo.

Bị cáo bị bắt quả tang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/15/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Bắc Giang (Có mặt tại phiên toà).

* Bị hại: Ông Đào Văn V, sinh năm 1965 (vắng mặt tại phiên toà)

Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện H, Bắc Giang.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Vũ Văn G1, sinh năm 1969 (vắng mặt tại phiên toà)

Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

* Người làm chứng: Chị Đỗ Thúy H1, sinh năm 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện H, Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo Dương Văn TBùi Văn Đ đều là đối tượng nghiện ma tuý; Do không có tiền nên rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Khoảng 10 giờ ngày 16/5/2024, Đ điều khiển xe mô tô đến đón T. Khi đi, T mang theo một chiếc Vam phá khoá bằng kim loại. Sau đó, Đ điều khiển xe chở T đến khu vực thôn H, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang để tìm mua ma tuý. Đến nơi ĐT gặp một người đàn ông lạ mặt và hỏi mua ma tuý. ĐT mỗi người mua 500.000đ tiền mua ma tuý loại

2

Heroine của người đàn ông này. Sau khi mua được ma tuý, ĐT vào trong khu vực vườn cây gần đó để sử dụng ma tuý và đã sử dụng hết số ma túy vừa mua, rồi ngồi chơi ở đó.

Đến khoảng 14 giờ ngày 16/5/2024, Đ điều khiển xe chở T ngồi sau đi trên tuyến đường 295 theo hướng từ huyện T đi huyện H tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng 16 giờ cùng ngày, cả hai đi qua cổng Ủy ban nhân dân xã N, huyện H khoảng 100m thì thấy trong ngõ bên phải đường khu vực cổng Trường mầm non N2 thuộc địa phận thôn Đ, xã N, huyện H có đông người đi đón trẻ nên T rủ Đ vào khu vực cổng trường xem có ai để xe mô tô sơ hở thì trộm cắp, Đ đồng ý và điều khiển xe rẽ vào khu vực cổng trường mầm non. Tại đây, T xuống xe tìm tài sản để trộm cắp, còn Đ đỗ xe sát tường bao của trường mầm noN2, cách cổng trường mầm non khoảng 15m cảnh giới. Sau khi quan sát, T phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 247.87 của ông Đào Văn V, sinh năm 1965, nơi cư trú: thôn N, xã N, huyện H đang dựng sát cổng trường mầm non, không có người trông coi, không khoá cổ, T tiến lại gần đứng bên trái xe mô tô, dùng chiếc vam hình chữ “T” cắm vào ổ khoá điện để phá khoá xe. Sau khi đã mở được khoá điện, T quay xe nổ máy, điều khiển xe đi về hướng đường T. Khi T di chuyển được khoảng 03m thì ông V ở trong sân trường mầm non phát hiện chạy đuổi theo túm vào phía sau xe môtô lôi lại làm T bị ngã, xe mô tô bị đổ. Tuyển vùng dậy bỏ chạy ra hướng đường tỉnh 295, đến chỗ Đ đang nổ xe đứng đợi và nhảy lên xe làm xe bị đổ, ĐT bị ngã xuống đường. Sau đó, TĐ bị người dân bắt giữ.

Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an xã N phối hợp cùng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đến lập biên bản bắt người phạm tội phạm tội quả tang, thu giữ: 01 xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 247.87 nhãn hiệu Honda- Wave là tài sản của ông Đào Văn V; 01 chiếc điện thoại SamSung- Galaxy J4+, vỏ màu đồng, số Imei: 352692103071567, là tài sản của Bùi Văn Đ; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Bùi Văn Đ; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Dương Văn T; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO- A16K, vỏ màu xanh, số Imei 1: 866892054527497, số Imei 2: 866892054527489 là tài sản của Dương Văn T; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda- Wave, số máy: HC12E2839680, số khung: RLHHC1204BY039661, đeo biển kiểm soát 29Y8- 6694.

Ngày 17/5/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Văn ĐDương Văn T; kết quả không thu giữ gì.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 34/KL- HĐĐGTS ngày 21/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: Chiếc mô tô biển kiểm soát 98D1- 247.87 nhãn hiệu Honda- Wave trị giá 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng).

Kết quả xác minh: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda- Wave, số máy: HC12E2839680, số khung: RLHHC1204BY039661 được cấp biển kiểm soát 98B1- 080.83, chủ sở hữu tên là Vũ Văn G1, sinh năm 1969; trú tại: thôn N, xã

3

C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai ông Vũ Văn G1; ông G1 khai năm 2011 ông mua 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda- Wave, đăng ký biển kiểm soát 98B1- 080.83. Đến năm 2015, do không có nhu cầu sử dụng nên ông đã bán chiếc xe, khi bán không làm giấy tờ, đến nay ông không nhớ bán cho ai. Còn Bùi Văn Đ khai, Đ mua của một người không quen biết để sử dụng, khi mua không làm giấy tờ mua bán. Chiếc biển kiểm soát 29Y8- 6694 được cấp cho chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda- Wave A, số máy HC09E5541494, số khung: RLHHC09057Y42202, xe đăng ký tên Hoàng Mạnh T1, địa chỉ: số D đường B, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Kết quả xác minh, Công an phường T cung cấp trên địa bàn phường không có ai tên Hoàng Mạnh T1 đăng ký cư trú.

Đối với chiếc vam bằng kim loại hình chữ “T” mà T sử dụng để phá ổ khoá xe trộm cắp, quá trình bỏ chạy T đã làm rơi, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thấy.

Về xử lý vật chứng: Ngày 04/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 247.87 cho ông Đào Văn V. Các vật chứng và tài sản thu giữ khác đã được nhập kho vật chứng.

Về trách nhiệm dân sự: ông Đào Văn V không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H, tỉnh Bắc Giang các bị cáo Dương Văn T2, Bùi Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản cáo trạng số: 80/CT-VKS-HH ngày 31/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố Dương Văn T2, Bùi Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà các bị cáo Dương Văn T, Bùi Văn Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Dương Văn T2, Bùi Văn Đ và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt Dương Văn T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 05 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/5/2024.

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt Bùi Văn Đ từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 05 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/5/2024.

3. Về tránh nhiệm dân sự: Không đạt ra giải quyết.

4. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

4

- Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với 01 chiếc điện thoại SamSung- Galaxy J4+, vỏ màu đồng, số Imei: 352692103071567 của bị cáo Bùi Văn Đ.

- Trả lại bị cáo Dương Văn T 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO- A16K, vỏ màu xanh, số Imei 1: 866892054527497, số Imei 2: 866892054527489, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại bị cáo Đ 01 căn cước công dân số [...] mang tên Bùi Văn Đ;

- Trả lại bị cáo T 01 căn cước công dân số [...] mang tên Dương Văn T;

- Tịch thu để sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda- Wave, số máy: HC12E2839680, số khung: RLHHC1204BY039661.

- Tịch thu tiêu hủy 01 biển kiểm soát 29Y8-6694 (Biển kiểm soát này đang gắn trên chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda- Wave)

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2017 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

- Bị cáo Bùi Văn Đ thuộc diện hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

- Buộc bị cáo Dương Văn T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3]. Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của bị hại; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được đưa ra xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 16/5/2024, tại khu vực cổng Trường Mầm non xã N2, huyện H, tỉnh Bắc Giang các bị cáo

5

Dương Văn TBùi Văn Đ đã lén lút cùng thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda- Wave, màu sơn trắng đen bạc của ông Đào Văn V, sinh năm 1965 ở thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Trị giá chiếc xe các bị cáo chiếm đoạt là 11.000.000đ. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; chỉ vì muốn có tiền mua ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự để giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

[5] Xét về vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy: Các bị cáo đều có sự thống nhất ý chí cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, nhưng chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ, phân công, phân nhiệm từng vị trí, vai trò giữa các bị cáo trong việc thực hiện hành vi phạm tội.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét đến tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng và phù hợp với từng bị cáo, cụ thể: Bị cáo T là người gọi rủ bị cáo Đ, khi đi T đã chuẩn bị công cụ phương tiện là V1 phá khóa xe máy và là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên giữ vai trò chính. Đối với bị cáo Đ là người tích cực tiếp nhận ý trí, dùng xe máy của mình chở T đi trộm cắp, khi T thực hiện hành vi thì Đ đứng ngoài cảnh giới nên giữ vai trò giúp sức tích cực trong vụ án.

[6]. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy:

Bị cáo Đ đã từng bị Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[7] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Do vậy, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[8]. Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính và đã bị kết án về hành vi "Mua bán trái phép chất ma tuý" nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân

6

mà tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Chứng tỏ các bị cáo là người khó cải tạo, coi thường pháp luật.

Sau khi xem xét hành vi, vai trò, động cơ, mục đích, tính chất, mức độ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[9]. Xét về hình phạt bổ sung thì thấy: Các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, không có công ăn việc làm, không có thu thập ổn định. Do vậy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[10]. Đối với người đàn ông bán ma tuý cho TĐ đến nay không xác định được tên tuổi địa chỉ cụ thể, do vậy không có căn cứ để xác minh, xử lý là đúng.

[11]. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của các bị cáo TĐ: Ngày 13/7/2024, Trưởng Công an huyện H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng.

[11]. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã được thu giữ trả lại bị hại. Nay người bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì về dân sự nên không đặt ra giải quyết.

[12]. Về vật chứng của vụ án và tài sản bị tạm giữ:

[12.1]. Đối với chiếc xe mô tô (có gắn biển kiểm soát 29Y8- 6694). Quá trình điều tra bị cáo Đ khai đã mua chiếc xe này của một người không quen biết, tuy nhiên chiếc biển kiểm soát 29Y8- 6694 có phải của chiếc xe bị cáo mua hay không thì bị cáo không biết. Quá trình điều tra xác định chiếc biển kiểm soát 29Y8- 6694 không trùng khớp với số khung, số máy của chiếc xe mô tô của Đ đã mua và sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp mà là của chiếc xe khác. Qua tra cứu xác định: Chiếc xe mô tô này có số máy là: HC12E2839680, số khung: RLHHC1204BY039661 được cấp biển kiểm soát 98B1- 080.83, hiện nay không có đăng ký và cũng không có bất kỳ giấy tờ gì liên quan đến chiếc xe; chiếc xe này bị cáo đã sử dụng làm phương tiện phạm tội. Do vây, cần tịch thu để sung quỹ nhà nước đối với chiếc xe mô tô này.

[12.2]. Đối với chiếc biển kiểm soát 29Y8- 6694 không phải là của xe mô tô thu giữ của bị cáo Đ mà là của xe khác và hiện nay không xác định được chiếc xe được cấp biển kiểm soát này. Nên cần tịch thu tiêu hủy đối với chiếc biển kiểm soát 29Y8- 6694.

[12.3]. Đối với 01 chiếc điện thoại SamSung của bị cáp Đ đã dùng vào việc liên lạc khi đi thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO- A16K của bị cáo T không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên trả lại cho bị cáo T, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

7

[12.4]. Đối với 01 căn cước công dân số [...] mang tên Bùi Văn Đ; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Dương Văn T là giấy tờ tùy thân các bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho các bị cáo.

[13]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2017 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

- Bị cáo Bùi Văn Đ thuộc diện hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

- Buộc bị cáo Dương Văn T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về căn cứ điều luật và hình phạt:

1.1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Dương Văn T 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/5/2024.

1.2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Bùi Văn Đ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 16/5/2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với 01 chiếc điện thoại SamSung- Galaxy J4+, vỏ màu đồng, số Imei: 352692103071567 của bị cáo Bùi Văn Đ.

- Trả lại bị cáo Dương Văn T 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO- A16K, vỏ màu xanh, số Imei 1: 866892054527497, số Imei 2: 866892054527489, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại bị cáo Đ 01 căn cước công dân số [...] mang tên Bùi Văn Đ;

- Trả lại bị cáo T 01 căn cước công dân số [...] mang tên Dương Văn T;

- Tịch thu để sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda- Wave, số máy: HC12E2839680, số khung: RLHHC1204BY039661.

- Tịch thu tiêu hủy 01 biển kiểm soát 29Y8-6694 (Biển kiểm soát này đang gắn trên chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda- Wave)

(Toàn bộ đặc điểm vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 67/QĐ-VKS ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát huyện H và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/8/2024 giữa Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang).

8

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2017 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

- Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Văn Đ.

- Buộc bị cáo Dương Văn T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Hiệp Hòa;
  • - Công an huyện Hiệp Hòa;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Hiệp Hòa;
  • - Bị cáo; bị hại; người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Văn Hải

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 80/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger