Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2023/HSST

Ngày: 18-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Từ Quốc Thái Bình

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lữ Duy Minh

2. Ông Nguyễn Văn Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Nga - Thư ký của Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Hoàng Kim Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:

BÙI THỊ HUYỀN TRÂM; Tên gọi khác: H; Sinh năm: 1984; tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi cư trú: Tổ D, khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi tạm trú: Ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Giới tính: Nữ; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo; Tiền án - Tiền sự: Không; Con ông: Bùi Văn C, sinh năm 1960 và bà: Trương Thị H1, sinh năm 1964; Chồng: Lê Anh D, sinh năm 1980 (đã ly hôn); Có 01 con Lê Anh K, sinh năm 2011; Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. (Có mặt)

* Bị hại: 1. Anh Hồ Văn L, sinh năm: 1989; Nơi cư trú: Xóm B, thôn D, xã S, huyện H tỉnh Bình Thuận. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Anh Hồ Văn H2, sinh năm: 1995; Nơi cư trú: thôn D, xã S, huyện H tỉnh Bình Thuận. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Lê Thị Thanh H3, sinh năm: 2000; Nơi cư trú: Ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Nơi ở hiện tại: Số B T, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1

Bị cáo Bùi Thị Huyền T, sinh năm: 1984, HKTT: tổ D, khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có giấy phép lái xe hạng B2 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 18/7/2014 (có giá trị đến ngày 18/7/2024).

Vào sáng ngày 19/11/2022, bị cáo T điều khiển xe ôtô nhãn hiệu KIA, số loại CERATO, biển số 60A - 708.65 (xe mượn của chị Lê Thị Thanh H3, sinh năm: 2000, HKTT: Ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai) đi từ huyện H, tỉnh Bình Thuận để về nhà ở huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, trên xe còn có 04 người gồm: ông Bùi Văn C, sinh năm: 1960 (cha ruột T), anh Bùi Quang T1, sinh năm: 1994 (em ruột T), bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1972 (cùng trú khu phố P, thị trấn P, huyện X) và bà Phạm Thị D1, sinh năm: 1967, HKTT: Ấp H, xã B, huyện X. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, khi đến đoạn Km 78+400m Quốc lộ E thuộc khu phố D, phường T, thị xã L, do không tập trung lái xe nên bị cáo T điều khiển xe chạy từ phần đường bên phải sang phần đường bên trái, va chạm với xe môtô nhãn hiệu WOLDWIDE, biển số 86H2- 5899 (dung tích xi lanh 97cm³) do Hồ Văn L, sinh năm: 1987 điều khiển (L không có giấy phép lái xe hạng A1, A2) chở theo Hồ Văn H2, sinh năm: 1995, HKTT: thôn D, xã S, huyện H. Sau đó, xe ôtô 60A - 708.65 tiếp tục di chuyển bên lề cỏ phần đường bên trái và vướng vào gờ bêtông trước nhà dân thì dừng lại. Sau tai nạn, Hồ Văn L bị thương tích được đưa đến điều trị tại Bệnh viện C1 và Bệnh viện P - Điều trị bệnh nghề nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 15/02/2023 thì xuất viện và vẫn đang điều trị theo định kỳ; còn Hồ Văn H2 bị thương được đưa đến điều trị tại Bệnh viện C1 và Bệnh viện C2 và Phục hồi chức năng thành phố Hồ Chí Minh, ra viện ngày 23/11/2022.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 186/KLTTCT-TTPYBT ngày 07/3/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận thương tích của Hồ Văn L như sau:

1. Các kết quả chính:

  • - Vết thương, chấn thương vùng trán - cung mày trái, dập não xuất huyết vùng trán, nhân bèo và đầu nhân đuôi phải; xuất huyết khoang dưới nhện trán trái, đỉnh - chẩm phải, cạnh bể não; xuất huyết trong não thất trái đã được điều trị hiện yếu ½ người trái, còn hình ảnh tổn thương cũ nhân bèo - chi trước bao trong - đầu nhân đuôi phải trên phim CT - Scanner sọ não, để lại sẹo lành trán - cung mày trái kích thước (2,5 x 1)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 40% + 6%.
  • - Vết thương phần mềm vùng gò má - mi dưới mắt trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước (8 x 1)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 9%.
  • - Vết thương phần mềm góc ngoài mắt phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành, kích thước (1 x 0,2)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3%.
  • - Vết thương phần mềm môi trên bên trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước (3 x 0,7)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 6%.
  • - Chấn thương vùng mũi gãy kín xương chính mũi và xương lá mía đã được điều trị, hiện ổn định. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 7%.

2

  • - Sây sát da 1/3 dưới mặt trước cắng chân phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành, kích thước (10 x 1,5)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3%.
  • - Mặt trước cẳng chân trái có 03 vết sây sát da đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước :
    • + Vết 1: (1,6 x 0,3)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.
    • + Vết 2: (3,2 x 0,5)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.
    • + Vết 3: (2,7 x 0,7)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.
  • - Chấn thương vùng mông trái gãy kín cổ xương đùi trái đã được phẫu thuật điều trị thay chỏm nhân tạo, hiện hạn chế vận động khớp háng trái, để lại sẹo vết mổ kích thước (16 x 0,3)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 35% + 2%.
  • - Vết sẹo vùng cổ trước khi mở khí quản kích thước (3,5 x 0,3)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 4%
  • - Sây sát da hai tay đã được điều trị, hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.

2. Kết luận:

  • - Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Hồ Văn L tại thời điểm giám định là 75%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
  • - Kết luận khác:
    • + Các vết thương, chấn thương, sây sát do vật tày gây ra.
    • + Các vết thương - chấn thương vùng trán - cung mày trái, gò má - mi dưới mắt trái, góc ngoài mắt phải, môi trên bên trái, vùng mũi có chiều hướng lực tác động từ trước ra sau; Chấn thương vùng mông trái có chiều hướng lực tác động từ trái sang phải; Các vết sây sát da mặt trước cẳng chân phải, mặt trước cẳng chân trái có chiều hướng lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 176/2023/TgT ngày 24/02/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận thương tích đối với Hồ Văn H2 như sau:

  • - Vết thương phần mềm vùng thái dương - đỉnh phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước (17 x 0,5)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3%.
  • - Vết thương phần mềm gót chân phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước (4 x 0,3)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.
  • - Chấn thương đùi phải sưng đau đã được điều trị, hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
  • - Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho anh Hồ Văn H2 hiện tại là 5%.
  • - Các vết thương do vật tày gây ra.

3

  • - Vết thương vùng thái dương đỉnh phải có chiều hướng lực tác động từ phải sang trái, từ trên xuống dưới; Vết thương gót chân phải có chiều hướng lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.
  • - Sau khi tai nạn xảy ra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L đã tổ chức khám nghiệm hiện trường như sau: Hiện trường vụ tai nạn xảy ra là đoạn đường thẳng được trải nhựa bê tông, đường phẳng thuộc Km 78+400m Quốc lộ E thuộc khu phố D, phường T, thị xã L. Bề rộng mặt đường đo được là 8,9m, ở giữa đường có bố trí vạch kẻ sơn màu vàng không liên tục chia mặt đường thành hai phần đường cho phép xe chạy thành hai chiều ngược chiều nhau. Chọn hướng đi từ xã S, huyện H đi ngã tư Q, thị xã L làm hướng chuẩn khám nghiệm. Theo hướng chuẩn khám nghiệm bề rộng làn đường bên phải đo được là 4,3m. Hiện trường vụ tai nạn nằm trong khu vực đông dân cư. Chọn lề phải theo hướng chuẩn khám nghiệm làm lề chuẩn, các dấu vết, vị trí thể hiện như sau:
    • + Nằm trong lề đường bên phải là vị trí vết sạt cỏ dài 22,45m, điểm rộng nhất 0,15m, có hướng ngược với hướng chuẩn, hơi chếch từ lề chuẩn vào trong lề đất bên trong lề chuẩn. Từ đầu vết sạt đo ra lề chuẩn là 0,5m, từ cuối vết sạt đo ra lề chuẩn là 5,2m (vết sạt cỏ thứ nhất).
    • + Nằm trong lề phải đường là vị trí cọc tiêu bị gãy. Từ vị trí cọc tiêu đo ra lề chuẩn là 0,6m (cọc tiêu thứ nhất).
    • + Nằm trong lề phải đường là vị trí vết cày đất dài 5m, điểm rộng nhất 0,1m, hơi chếch từ lề chuẩn vào trong bờ đất bên trong lề chuẩn. Từ đầu vết cày đo ra lề chuẩn là 0,4m, từ cuối vết cày đo ra lề chuẩn là 1m.
    • + Nằm trong lề phải đường là vị trí cọc tiêu bị gãy. Từ vị trí chân cọc tiêu đo ra lề là 0,6m (cọc tiêu thứ hai).
    • + Nằm trong lề phải đường là vị trí xe môtô biển số 86H2 - 5899 và cụm lốc máy xe môtô ngã về bên phải, đầu xe quay về hướng đi xã S hơi chếch vào trong lề chuẩn, đuôi xe quay về hướng đi ngã tư Q hơi chếch ra lề chuẩn. Từ tâm trục trước (P) xe đo ra lề chuẩn là 02m, từ tâm trục sau (P) đo ra lề chuẩn là 1,2m. Từ gác chân trước (P) gắn lốc máy đo ra lề là 1,6m.
    • + Nằm trong lề phải đường là vị trí vết sạt cỏ dài 13,7m, điểm rộng nhất 0,15m, có hướng ngược với hướng chuẩn hơi chếch từ lề chuẩn vào bên trong bờ đất. Từ đầu vết sạt đo ra lề chuẩn là 1,15 m, từ cuối vết sạt đo ra lề chuẩn là 3,4m (vết sạt cỏ thứ hai).
    • + Nằm trong bờ cỏ bên trong lề chuẩn là vị trí vết máu dạng vũng không rõ hình, kích thước (0,5x0,3)m. Từ tâm vết máu đo ra lề chuẩn là 5,3m.
    • + Nằm trong lề phải đường là vị trí xe ô tô con biển số 60A- 708.65 nằm dựng đứng, đầu xe quay về hướng đi xã S hơi chếch ra lề chuẩn; đuôi xe quay về hướng ngã tư Q hơi chếch vào trong lề chuẩn. Từ tâm trục trước (P) đo ra lề chuẩn là 3,3m, từ tâm trục sau (P) đo ra lề chuẩn là 3,4m; từ tâm trục sau (T) đo ra lề chuẩn là 5,2m.

4

Mối tương quan giữa các dấu vết: Từ đầu vết sạt cỏ thứ nhất đo về hướng đi xã S hơi chếch vào trong lề chuẩn 1,55m là vị trí cọc tiêu thứ nhất. Từ vị trí cọc tiêu thứ nhất đo về hướng Sơn M 2,9m là vị trí cọc tiêu thứ hai. Từ vị trí cọc tiêu thứ hai đo về hướng đi ngã tư Q hơi chếch ra lề chuẩn 2,1m là vị trí đầu vết cày đất. Từ vị trí cuối vết cày đo về hướng đi xã S hơi chếch vào trong lề chuẩn 0,4m là vị trí trục sau xe môtô 86H2 - 5899. Từ vị trí cọc tiêu thứ hai đo về hướng xã S hơi chếch vào trong lề chuẩn 3,1m là vị trí tâm trục sau (P) xe môtô 86H2 - 5899. Từ tâm trục sau (P) xe môtô 86H2 - 5899 đo về hướng đi xã S hơi chếch vào trong lề phải đường 14,85m là vị trí tâm trục trước (P) xe ôtô 60A - 708.65. Từ tâm trục trước (P) xe môtô 86H2 - 5899 đo ra lề chuẩn hơi chếch về hướng đi xã S 1,2m là vị trí đầu vết sạt cỏ thứ hai. Từ tâm trục trước (P) xe môtô 86H2 - 5899 đo vào trong lề chuẩn hơi chếch về hướng đi S là vị trí tâm vết máu.

- Tiến hành khám nghiệm phương tiện đối với xe ôtô biển số 60A - 708.65, loại ôtô con, 05 chỗ ngồi, nhãn hiệu KIA, số loại CERATO 1.6S AT, sản xuất năm 2019. Thời hạn đăng kiểm có hiệu lực đến ngày 08/11/2023:

  • + Dấu vết trên phương tiện: Cản trước rời khỏi xe; Cụm đèn chiếu sáng trước trầy xước (5 x 2)cm, bên trong bể (3 x7 )cm; Bas đỡ cản trước gãy rời; Mũi vè trước (T) móp, cong vênh (40 x 20)cm; Chắn bùn, lòng vè trước trái gãy 60cm; Phuộc nhún trước (T) đẩy về sau 4cm; Mặt vỏ lốp trước (T) mặt ngoài hằn đen (30 x 3)cm; Mâm bánh trước (T) trầy xước (12 x 2)cm; Nắp capo trước (T) móp gãy (19 x 10)cm; Kính chắn gió trước (T) bể (10 x 40)cm, dính mẫu tóc, da, vết nâu đỏ (30 x 3)cm; Mũi vè trước (P) móp, cong vênh (30 x 20)cm, đẩy vào trong 03cm; Chắn bùn lòng vè trước (P) gãy rời khỏi xe; Nắp nhựa phía trên két nước bể (77 x 7)cm; Xương cản trước (T) cong móp, hằn trắng đen, kích thước (12 x 10)cm; Khung xương đỡ két nước (T) bề (25 x 10)cm, đẩy về sau 5cm; Két nước (T) phía dưới móp (14 x 12)cm, rò rỉ nước; Kèn xe gãy rời; Cần số đang ở chế độ D; Thắng tay ở chế độ mở.
  • + Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống lái được bố trí, hoạt động bình thường. Hệ thống bánh lốp: Bánh trước còn áp lực hơi còn tác dụng (T) 60%, (P) 70%; Bánh lốp sau còn áp lực hơi, còn tác dụng 65%. Phanh chính, phụ còn tác dụng.

- Tiến hành khám nghiệm phương tiện đối với môtô biển số 86H2 - 5899:

  • + Dấu vết phương tiện: Cụm đèn chiếu sáng trước bể rời; Cụm đèn tín hiệu trái, phải phía trước bể toàn bộ; Ghi đông tay lái cong vênh; Mặt nạ trước gãy rời; Mũi vè trước gãy rời; Ốp phuộc trái bể rời; Ty phuộc trước (T), (P) cong vênh đẩy về sau; Vành bánh trước cong vênh (45 x 45)cm; Căm cong vênh, gãy 14 cây; Ống sườn phía trước (P) móp (6 x 6)cm cong về bên trái; Ba ga trước (P) cong gãy (20 x 40)cm; B1 xăng cong vênh, móp (25 x 30)cm, cong móp xuống dưới 7cm; Vành bánh sau cong vênh; Nồi côn bể hoàn toàn; Cụm lốc máy rời khỏi xe.
  • + Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống lái lệch sang trái; Hệ thống phanh trước, sau còn tác dụng; Hệ thống bánh lốp trước, sau còn áp lực hơi, còn tác dụng 80%.

5

- Tại Kết luận giám định số: 23A/KL-KTHS ngày 01/02/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận:

Tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông trên đường Q:

1. Xe môtô biển số 86H2 - 5899 di chuyển trên đường theo hướng từ xã S đi ngã tư Q; Xe ôtô biển số 60A - 708.65 di chuyển trên đường theo hướng ngược lại, phía trước xe môtô.

Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ôtô biển số 60A - 708.65 và xe môtô biển số 86H2 - 5899 tại thời điểm xảy ra tai nạn.

2. Xe ôtô biển số 60A - 708.65 có các dấu vết va chạm: Vỡ rơi khỏi xe toàn bộ cản trước, cong kim loại đầu nắp capo trước bên trái, trượt xước kim loại mặt trước khung xe bên trái, chiều hướng từ trước ra sau, tâm vết cao cách đất 41cm; gãy kim loại mặt dưới gầm lốc máy, trục kim loại bánh xe trục I bên trái, chiều hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên phù hợp với các dấu vết va chạm trên xe môtô biển số 86H2 - 5899: Vỡ, cong kim loại giảm xóc trước bên trái, gãy rời lốc máy văng khỏi xe, vỡ ốp kim loại ốp bảo vệ lốc máy bên trái, chiều hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải; trượt xước, gãy kim loại, cong gác chân trước, cần số trước bên trái, chiều hướng từ trái qua phải, từ trên xuống dưới.

Xe ôtô biển số 60A - 708.65 va chạm với xe môtô biển số 86H2 - 5899 tại phần đường bên phải theo hướng từ xã S đi ngã tư Q.

Tại Kết luận giám định số: 23B/KL-KTHS ngày 08/02/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận:

Tại thời điểm giám định xe ôtô biển số 60A - 708.65:

1. Hệ thống lái thuộc lái có trợ lực lắp đặt đầy đủ, đúng vị trí kỹ thuật, không phát hiện hư hỏng.

Hệ thống lái hoạt động bình thường, đảm bảo chuyển hướng theo ý muốn của người điều khiển.

2. Hệ thống phanh chính thuộc loại phanh dầu có trợ lực lắp đặt đầy đủ, đùng vị trí kỹ thuật, không phát hiện hư hỏng.

Hệ thống phanh tay (phanh đỗ) có các cụm chi tiết lắp đúng vị trí, kỹ thuật, không phát hiện hư hỏng.

Hiện tại hệ thống phanh chính và phanh đỗ của xe ôtô biển số 60A - 708.65 hoạt động bình thường.

3. Phát hiện cụm đèn tín hiệu phía trước bên trái và bên phải bị vỡ, bung rời. Các đèn còn lại, còi hoạt động bình thường.

Các cụm chi tiết của hệ thống đèn tín hiệu, các dấu vết hư hỏng hiện tại trên hệ thống đèn được hình thành do xe va chạm vào các chướng ngại vật khi xảy ra tai nạn giao thông.

4. Phát hiện két nước làm mát bị cong vênh, đẩy lệch vào trong.

6

Các dấu vết hư hỏng hiện tại trên hệ thống làm mát được hình thành do xe va chạm vào các chướng ngại vật khi xảy ra tai nạn giao thông.

Các hệ thống: động cơ, treo, ly hợp, hộp số, truyền lực các đăng, vi sai, bán trục, bàn đạp ga, cần số được lắp đặt đầy đủ, đúng vị trí kỹ thuật, không phát hiện hư hỏng, hoạt động bình thường.

Về vật chứng thu giữ: Cơ quan điều tra trả lại xe ôtô biển số 60A - 708.65 cho chủ sở hữu là chị Lê Thị Thanh H3 và trả lại xe môtô biển kiểm soát 86F9 - 5932 cho anh Hồ Văn L trong giai đoạn điều tra.

Về dân sự: Bị cáo Bùi Thị Huyền T đã bồi thường cho anh Hồ Văn L nhiều lần với tổng số tiền 300.000.000 đồng và bồi thường cho anh Hồ Văn H2 số tiền 20.000.000 đồng. Cả anh L và anh H2 đều không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ cho Bùi Thị Huyền T.

Tại bản cáo trạng số 77/CT-VKSLG-HS ngày 19/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Bùi Thị Huyền T, về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Thị Huyền T và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Thị Huyền T, phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 260; Điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Phạt bị cáo Bùi Thị Huyền T, mức án từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.

* Về biện pháp tư pháp; Áp dụng: Khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. T2: Trả lại cho bị cáo Bùi Thị Huyền T 01 Giấy phép lái xe hạng A1, B2 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 18/7/2014 mang tên Bùi Thị Huyền T.

- Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thị Huyền T khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã La Gi truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

- Bị cáo không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã La Gi.

- Bị cáo Bùi Thị Huyền T nói lời sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là sai, bị cáo rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

7

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội, tội danh và tình tiết định khung hình phạt:

Tại Tòa, bị cáo Bùi Thị Huyền T khai nhận: Bị cáo có giấy phép lái xe hạng A1, B2 do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 18/7/2014 (có giá trị đến ngày 18/7/2024). Vào khoảng 11 giờ ngày 19/11/2022, bị cáo điều khiển xe ôtô nhãn hiệu KIA, biển số 60A - 708.65 di chuyển trên đường Q hướng từ thị xã L về huyện X. Khi đến đoạn Km 78+400m đường Q thuộc khu phố D, phường T, thị xã L, do không tập trung lái xe nên bị cáo điều khiển xe chạy từ phần đường bên phải sang phần đường bên trái, dẫn đến va chạm với xe môtô biển số 86H2 - 5899 do anh Hồ Văn L điều khiển chở theo anh Hồ Văn H2. Hậu quả làm anh Hồ Văn L bị thương tích 75%, còn anh Hồ Văn H2 bị thương tích 5%.

Xét, lời khai của bị cáo Bùi Thị Huyền T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Sơ đồ hiện trường tai nạn giao thông; Biên bản khám nghiệm xe liên quan; Kết luận giám định pháp y về thương tích ... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Bùi Thị Huyền T đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố đối với bị cáo Bùi Thị Huyền T về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Thị Huyền T, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã học tập Luật giao thông đường bộ và được Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp giấy phép lái xe hạng A1, B2; thế nhưng trong lúc điều khiển ôtô biển số 60A - 708.65, là nguồn nguy hiểm cao độ, bị cáo đã không tuân thủ triệt để các quy định của Luật giao thông đường bộ, tỏ ra chủ quan, thiếu tập trung, đã va chạm với xe môtô biển số 86H2 - 5899 do anh Hồ Văn L điều khiển chở theo anh Hồ Văn H2 gây tai nạn, làm anh Hồ Văn L và anh Hồ Văn H2 đều bị thương.

Nguyên nhân vụ tai nạn giao thông lỗi do bị cáo. Bởi lẽ: Quá trình điều khiển xe tham gia giao thông, bị cáo đã đi không đúng phần đường quy định, gây tai nạn giao thông làm hai 02 người bị thương với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của hai người là 80%. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ; Thể hiện sự xem thường pháp luật; xâm

8

phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ; gây thiệt hại về sức khoẻ con người. Do đó, cần xử lý và phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe giáo dục bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi gây tai nạn dẫn đến anh L và anh H2 bị thương, bị cáo thường xuyên đến thăm hỏi, động viên, thỏa thuận bồi thường đầy đủ cho các bị hại và được anh L, anh H2 có đơn xin bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo; Nhân thân chưa có tiền án - tiền sự, lần đầu phạm tội; Hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, vợ chồng đã ly hôn, bị cáo là người trực tiếp chăm sóc con nhỏ, là lao động chính trong gia đình; Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Xét, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự; phạm tội với lỗi vô ý, có nhân thân tốt, luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú; có nghề nghiệp ổn định và nơi cư trú rõ ràng; quá trình điều tra bị cáo được xem xét cho tại ngoại và trong thời gian tại ngoại bị cáo không có vi phạm gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần khoan hồng về phần hình phạt đối với bị cáo, áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục, để bị cáo có điều kiện vừa cải tạo, vừa lao động ổn định cuộc sống, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Bùi Thị Huyền T đã bồi thường cho bị hại Hồ Văn L nhiều lần với tổng số tiền 300.000.000 đồng và bồi thường cho bị hại Hồ Văn H2 số tiền 20.000.000 đồng. Tại tòa, các bị hại vắng mặt, căn cứ đơn xin xét xử vắng mặt của các bị hại đều thể hiện: không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về phần dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với xe ôtô nhãn hiệu KIA, số loại CERATO, biển số 60A - 708.65 và xe môtô nhãn hiệu WOLDWIDE, biển số 86H2- 5899; quá trình điều tra, đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1, B2, số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 18/7/2014 mang tên Bùi Thị Huyền T, cần trả lại cho bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

9

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm c khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • - Khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị Huyền T, phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị Huyền T 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng, được tính từ ngày Toà tuyên án sơ thẩm (ngày 18/8/2023).

Giao bị cáo Bùi Thị Huyền Tcho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo (bị cáo Bùi Thị Huyền T) thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo (bị cáo Bùi Thị Huyền T) cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo (bị cáo Bùi Thị Huyền T) phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Bùi Thị Huyền T 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, B2 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 18/7/2014 mang tên Bùi Thị Huyền T.

[3] Về án phí: Bị cáo Bùi Thị Huyền T phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung.

10

(Đã giải thích chế định án treo đối với bị cáo Bùi Thị Huyền T)

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - CA tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND thị xã La Gi;
  • - Chi cục THADS thị xã La Gi;
  • - Công an thị xã La Gi;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - Lưu Tòa án;
  • - UBND địa phương nơi BC cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Từ Quốc Thái Bình

11

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THẨM PHÁN

Từ Quốc Thái Bình

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi ..... giờ..... phút, ngày 18 tháng 8 năm 2023. Tại phòng nghị án, Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Từ Quốc Thái B2

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lữ Duy M1

2/ Ông Nguyễn Văn Q

12

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo: Bùi Thị Huyền T bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận, truy tố về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

[1] Về điều luật áp dụng:

Căn cứ vào:

  • - Điểm c khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • - Khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3.

[2] Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Huyền T, phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3.

[3] Về mức hình phạt:

Xử phạt bị cáo Bùi Thị Huyền T tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là tháng, được tính từ ngày Toà tuyên án sơ thẩm (ngày 18/8/2023).

Giao bị cáo Bùi Thị Huyền Tcho Ủy ban nhân dân xã X huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo (bị cáo Bùi Thị Huyền T) thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo (bị cáo Bùi Thị Huyền T) cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo (bị cáo Bùi Thị Huyền T) phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3.

[4] Về các vấn đề khác:

13

  • - Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Bùi Thị Huyền T 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, B2 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 18/7/2014 mang tên Bùi Thị Huyền T.
  • - Về án phí: Bị cáo Bùi Thị Huyền T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3.

Nghị án kết thúc vào hồi ...... giờ ...... phút, ngày 18 tháng 8 năm 2023.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THẨM PHÁN

Từ Quốc Thái Bình

14

15

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2023/HSST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 80/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger