TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 80/2024/HS-ST Ngày 19/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Lê Kiên Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hà Huy Khoa.
- Bà Nguyễn Thị Hoa.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hoàn– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Huyền- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1973 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn M, xã B, huyện H, tỉnh Thái Bình; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành L (đã chết. Ông L được Chủ tịch nước CHXHCNVN tặng thưởng huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất) và bà Trần Thị H, sinh năm 1950 (bà H được Chủ tịch nước CHXHCNVN tặng thưởng huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất); có vợ là Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1976 và có 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 30/5/2024 đến ngày 04/6/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ (có mặt tại phiên tòa).
* Người chứng kiến:
- - Ông Nhâm Quang H1, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn H, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
- - Ông Lương Ngọc T1 sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn D, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy và nghe bạn bè nói ở khu vực đường Q thuộc địa phận xã C, huyện Đ có người đàn ông khoảng 40 tuổi bán ma túy nên khoảng 06 giờ 30 phút ngày 30/5/2024, T đi bộ từ nhà ở thôn M, xã B ra trục đường xã đi nhờ xe của một người qua đường không quen biết đến khu vực nghĩa trang G Quốc lộ C, thuộc địa phận xã C, huyện Đ mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, T xuống xe đi bộ ở ven đường gần khu vực nghĩa trang thì gặp một người đàn ông có đặc điểm như mô tả đeo khẩu trang, T không biết tên và địa chỉ đứng ở ven đường. T lại gần hỏi “Bán cho em 200.000 đồng Heroine” và đưa tiền cho người này, người này nhận tiền và đưa lại cho T 02 gói ma túy bên ngoài đều được gói bằng giấy kim loại màu trắng. T cầm 02 gói ma túy vừa mua được cất vào túi quần bên phải phía trước đang mặc, sau đó đi bộ theo hướng đi huyện H mục đích tìm xe đi nhờ về để sử dụng. Khi đang đi bộ đến trục đường thôn L, xã M thì bị tổ công tác của Công an xã M yêu cầu T dừng lại để kiểm tra. Cơ quan Công an đã mời ông Lương Ngọc T1 và ông Nhâm Quang H1 chứng kiến; sau khi được nghe giải thích quyền và nghĩa vụ, trước sự chứng kiến của mọi người, T đã tự nguyện lấy từ túi quần bên phải đang mặc giao nộp cho tổ công tác 02 gói ma túy, bên ngoài đều được gói bằng giấy kim loại màu trắng, mở ra bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục, T khai là ma túy H2 vừa mua về để sử dụng. Tổ công tác đã đưa T cùng vật chứng và mời những người chứng kiến về trụ sở Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, quản lý, niêm phong vật chứng.
Tại bản kết luận giám định số 744/KL- KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma tuý, loại Heroin (Heroine) có khối lượng 0,1828 gam (Không phẩy một nghìn tám trăm hai mươi tám gam)
Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố. Bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.
Tại cơ quan điều tra, người chứng kiến là ông Nhâm Quang H1 và ông Lương Ngọc T1 khai: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 30/5/2024, tại trục đường thuộc địa phận thôn L, xã M, huyện Đ; ông H1 và ông T1 đã chứng kiến việc Công an xã M, huyện Đ khám xét, thu giữ tại túi quần bên phải của Nguyễn Văn T đang mặc 02 gói ma túy, bên ngoài đều được gói bằng giấy kim loại màu trắng, mở ra bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục, T khai là ma túy H2 vừa mua về để sử dụng cho bản thân.
Bản cáo trạng số 79/CT-VKSĐH ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng và án phí.
Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an xã M, huyện Đ lập hồi 08 giờ 00 phút ngày 30/5/2024; Biên bản niêm phong vật chứng; Bản ảnh vật chứng; Bản kết luận giám định số 774/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T; Lời khai của người chứng kiến là ông Nhâm Quang H1 và ông Lương Ngọc T1; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng T vẫn cố ý tàng trữ trái phép trên người 0,1828 gam Heroin, mục đích để sử dụng cho bản thân. Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, là nguyên nhân làm phát sinh và gia tăng các loại tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Hậu quả mà bị cáo gây ra phải chịu sự trừng trị của pháp luật, đây là bài học cho bị cáo và những người mắc nghiện ma túy, phạm các tội về ma túy.
[4] Khi quyết định hình phạt, xét thấy:
- - Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- - Bị cáo thành khẩn khai báo, có bố đẻ và mẹ đẻ được Chủ tịch nước CHXHCNVN tặng thưởng huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt tương xứng để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện và để giáo dục, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn; bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về nguồn gốc ma tuý: Quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được người bán ma túy cho bị cáo là ai, do đó không có căn cứ để điều tra, xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn T 01 năm 03 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 30/5/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroin thu giữ của Nguyễn Văn T được hoàn lại sau giám định, niêm phong trong phong bì số 744/KL- KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T.
(Vật chứng trên đã được bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 25/7/2024).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Lê Kiên Trung |
Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 19/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 80/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Trọng - Tàng trữ trái phép chất ma túy- điểm c khoản 1 điều 249
