TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 80/2024/HSST Ngày: 18 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Cúc
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông: Nguyễn Văn Hải
- 2. Ông: Nguyễn Văn Dương
- - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Thị Hải Vân – Thư ký TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- - Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Kim Duy C - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 50/2024/HSST ngày 19/4/2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXX- ST, ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Lê Tiến D - Sinh ngày 02/11/1993, tai xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Hộ khẩu thường trú: Xóm M, xã Q, huyên Q, tỉnh Nghệ An; Nơi ở khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội: TDP N, phường H, thị xã N, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; ; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Lê Tiến P – sinh năm 1957 và con bà: Phan Thị T – sinh năm 1972; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/11/2023 cho đến nay, có mặt tai phiên tòa.
2. Văn Thi L – Sinh ngày 02/9/1996, tai xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Hộ khẩu thường trú: K, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh, Giới tính: nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông: Văn Đình N – sinh năm 1960 và con mẹ: Nguyễn Thị K – sinh năm 1962; có chồng: Vũ Văn N1 – sinh năm 1999, bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2018. Hiện bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 03/4/2024 về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: anh Vũ Văn N1- Sinh năm 1999.
Địa chỉ: K, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cai nghiện tại cơ sở số 2 thuộc xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Người làm chứng: Trần Tồn K1 – sinh năm 1986
Địa chỉ: Ấp D, xã B, huyện B, TP
+ Đỗ Duy L1 – sinh năm 1994
Đại chỉ: Xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Phạm Thế D1 – sinh năm 1972
Địa chỉ: TDP N, phường H, TX. N, Thanh Hóa.
+ Nguyễn Thành H – sinh năm 1993
Địa chỉ: 1 V, phường B, Q. B, TP> Hồ Chí Minh.
Đều vắng mặt tại phiên toà
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 22/11/2023, Lê Tiến D, sinh năm 1993, trú tại xóm M, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, là công nhân tại cảng container L cùng với một số công nhân ở cùng phòng trọ, gồm Trần Tồn K1, Nguyễn Thành H và Đỗ Duy L1 cùng nhau ăn cơm, uống rượu tại phòng trọ số 10 của nhà trọ N2 ở tổ dân phố N, phường H, thị xã N. Sau khi ăn xong, D và số người trên đến quán cà phê “Cây Xanh Quán” ở tổ dân phố L, phường H, thị xã N uống nước. Lúc này, D có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên hỏi vay tiền của K1, thì K1 đồng ý và chuyển khoản cho D 500.000 đồng. Khi vay được tiền, D sử dụng tài khoản Facebook “Duong T Le” gọi điện qua ứng dụng Messenger đến tài khoản Facebook "Nam Vũ” của Văn Thị L, sinh năm 1996, trú tại K, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An hỏi mua 500.000 đồng ma túy, loại hồng phiến. L đồng ý bán và gửi qua ứng dụng Messenger số tài khoản 0355312551 ngân hàng MB của L cho D. Sau khi D chuyển 500.000 đồng từ số tài khoản 8870546543 ngân hàng BIDV của D đến số tài khoản của L, thì L hẹn D đến cầu gần mỏ đá Q thuộc khối F, phường Q, thị xã H để lấy ma túy. D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37L2-005.65 của D đi đến điểm hẹn, lúc này khoảng 19h24' cùng ngày, D gọi điện thoại cho L thông báo đã đến nơi. Khoảng 05 phút sau, L đi xe đạp điện đến và đưa cho D 01 túi nilon loại có khóa zip có kích thước khoảng (2 x 3) cm, bên trong túi có 05 viên ma túy hồng phiến. Sau khi mua được ma túy, D điều khiển xe mô tô đi về phòng trọ, thì thấy H, K1, L1 đang ở phòng. D lấy 01
vỏ chai nhựa, loại 330ml ở trước cửa đem vào phòng, sau đó D lấy bao thuốc lá Thăng L2 và bật lửa ga từ trong túi quần, lấy 01 điếu thuốc lá châm lửa đốt thuốc đục 01 lỗ trên thân chai và lấy một ít nước cho vào chai; tiếp đó D lấy 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng ở trong phòng cuộn lại cắm vào lỗ trên thân chai nhựa, rồi xé giấy bạc từ bao thuốc lá để lên trên tờ tiền, lấy 01 viên hồng phiến bỏ lên trên giấy bạc, dùng bật lửa ga đốt giấy bạc và ngậm miệng chai nước hút. Sau khi hút xong, D tiếp tục cho ma túy lên giấy bạc, sử dụng bật lửa ga đốt cho H, K1 và L2 lần lượt hút ma túy. Khoảng 10 phút sau, khi sử dụng hết 05 viên ma túy, Dương cầm vỏ chai nước vứt xuống ao trước phòng trọ, lấy bao thuốc lá, giấy bạc, bật lửa ga, túi nilon cho vào nhà vệ sinh rồi xả nước, còn tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng thì Dương xếp cùng với 02 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng để ở nền gạch trong phòng, sau đó cả nhóm lên giường nằm. Đến khoảng 21h15' cùng ngày, Công an phường H triệu tập D, K1, H và L2 về trụ sở để làm việc liên quan đến vụ gây thương tích tại quán cà phê “Cây Xanh Quán” trước đó. Tại trụ sở Công an phường H, các đối tượng đã khai nhận vừa sử dụng trái phép chất ma túy và D là người tổ chức sử dụng. Tiến hành test nhanh ma túy đối với D, K1, L2 và H, kêt quả đều dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine nên Công an phường H đã chuyển vụ việc trên đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N để giải quyết theo thẩm quyền (BL 52-57, 86-92, 127-130, 213-234, 308, 447).
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Tiến D tại phòng trọ số A nhà T ở tổ dân phố N, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, Cơ quan điều tra thu giữ 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, 01 bật lửa ga màu vàng, 01 bật lửa ga màu trắng và 01 cốc nhựa màu trắng (BL 182 - 184).
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Văn Thị L ở khối D, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, Cơ quan điều tra thu giữ:
- Thu giữ trong chiếc ủng nhựa để ở sát vị trí cửa phía Nam 01 túi nilon màu trắng, kích thước (4 x 4)cm, có viền màu xanh tại vị trí khóa kéo, bên trong bám dính chất bột màu hồng;
- Thu giữ trong tủ quần áo kê sát tường phía Tây 01 túi nilon màu hồng, kích thước (6,5 x 9)cm, bên trong bám dính chất bột màu hồng;
- Thu giữ tại bàn trang điểm phía Bắc phòng ngủ tầng một, 01 túi nilon màu trắng, kích thước (4 x 4)cm, có viền màu xanh tại vị trí khóa kéo, bên trong bám dính chất bột màu hồng;
- Thu giữ tại tủ trang điểm kê sát tường phía Bắc trong phòng ngủ 10 túi nilon màu trắng, kích thước (2 x 3)cm, có viền màu xanh tại vị trí khóa kéo; 10 túi nilon màu đen, kích thước (2,5 x 1,5)cm, có viền màu xanh tại vị trí khóa kéo túi (BL 194).
Cơ quan điều tra đã tiến hành thu mẫu nước tiểu của Đỗ Thanh L3, Nguyễn Thành H, Lê Tiến D và Trần Tồn K1 để giám định tìm chất ma túy.
Tại kết luận giám định số 4296/KL-KTHS ngày 28/11/2023, Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: “Tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu giữ của Đỗ Thanh L3, Nguyễn Thành H, Lê Tiến D và Trần Tồn K1 gửi giám định” (BL 174).
Kết luận giám định số 4302/KL-KTHS, ngày 28/11/2023, Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:
- Tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine bám dính trên 03 tờ tiền Việt Nam đồng lần lượt có mệnh giá 2.000 đồng, 2.000 đồng và 1.000 đồng. Không xác định được khối lượng.
- Không tìm thấy chất ma túy bám dính trên cốc nhựa màu trắng.
- Không tìm thấy chất ma túy bám dính trên vỏ chai nhựa (BL 188).
Kết luận giám định số 4299/KL-KTHS ngày 28/11/2023, Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:
- Chất bột màu hồng bám dính bên trong 02 túi nilon màu trắng, kích thước (4 x 4)cm, viền màu xanh tại vị trí kéo khóa túi gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, không xác định được khối lượng.
- Chất bột màu hồng bám dính bên trong túi nilon màu hồng, kích thước (6,5 x 9)cm gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, không xác định được khối lượng.
- Không tìm thấy chất ma túy bám dính bên trong 10 túi nilon màu trắng và 10 túi nilon màu đen (BL 200).
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 03 tệp video trích xuất từ Camera an ninh của gia đình ông Phạm Văn D2, sinh năm 1972, ở tổ dân phố N, phường H, thị xã N ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, toàn bộ dữ liệu được lưu trữ trong 01 thẻ nhớ nhãn hiệu “NETAC 32GB”. Tại Kết luận giám định kỹ thuật số, điện tử số 4501/KL-KTHS ngày 14/12/2023, Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: “Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 03 tệp video của 01 thẻ nhớ gửi giám định”. Sau giám định, chiếc thẻ nhớ chứa 03 tệp video trên và các tài liệu, hình ảnh in từ các tệp video gửi giám định được đưa vào hồ sơ vụ án (BL 245-253).
Về nguồn gốc ma túy L bán cho D, L khai trước đó đã mua của người không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ vào ngày 22/11//2023 tại khu vực ngã tư thuộc phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.
Đối với Trần Tồn K1 có hành vi chuyển khoản cho Lê Tiến D vay 500.000 đồng, quá trình điều tra xác định K1 không biết D vay tiền để đi mua ma túy nên K1 không đồng phạm với D về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với ông Phạm Thế D1, sinh năm 1972, chủ nhà trọ N, quá trình điều tra xác định ông D1 không biết việc các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ số 10 nên không vi phạm pháp luật.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Tồn K1, Nguyễn Thành H và Đỗ Văn L4, Cơ quan điều tra đã chuyển toàn bộ tài liệu có liên quan đến Công an thị xã N để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo nhận tội và không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng mà VKS ND thị xã N truy tố bị cáo.
Bản cáo trạng số 75/CT-VKSNS ngày 17/4/2024 của VKSND thị xã Nghi Sơn đã truy tố bị cáo Lê Tiến D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS và Văn Thị L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Tại phiên tòa VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng: khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của BLHS
- - Xử phạt: Văn Thị L từ 27 đến 30 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- - Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 BLHS.
- - Xử phạt: Lê Tiến D từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng.
- - Về tang vật: Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy toàn bộ số tang vật liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.
- + Tịch thu bán xung công quỹ nhà nước:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh bàn phím cơ lắp sim số thuê bao 0355.312.551 và 0967.022.756.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPP A77S, màu xanh, có số Imeil: 866996066038797; Imei2: 866996066038789, lắp sim số thuê bao 0972.379.820; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 37L2-005.65.
- - Trả lại cho anh N1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8 Z 5G, màu xanh kiểu máy CPH2457 có số Imei1: 868062061998333, số I: 868062061998325.
- + Tịch thu xung công quỹ nhà nước 02 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 1.000 đồng;
- - Truy thu xung công số tiền 500.000 đồng từ bị cáo Văn Thị L
- * Án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Kết luận giám định; lời khai của những người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa khẳng định:
Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên khoảng 19h30' ngày 22/11/2023, tại khu vực mỏ đá thuộc khối F, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, Văn Thị L có hành vi bán trái phép cho Lê Tiến D 05 viên hồng phiến (kết quả giám định là ma túy, loại Methamphetamine) với giá 500.000 đồng. Số ma túy này, D đem về phòng trọ số 10 của Nhà trọ N2 ở tổ dân phố N, phường H, thị xã N tổ chức cho bản thân và 03 người khác, gồm Trần Tồn K1, Nguyễn Thành H và Đỗ Văn L4 sử dụng trái phép trong khoảng thời gian từ 20h00' đến 20h45' ngày 22/11/2023. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và cần xử phạt nghiêm theo quy định của pháp luật.
Các Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với tang vật cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với lời kết luận của đại diện VKS. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của bị cáo Lường Tiến D3 có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS và Văn Thị L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.
[3]. Xét tính chất vụ án:
Trong những năm qua tình hình về tội phạm ma túy dưới mọi hình thức trong cả nước nói chung và trên địa bàn thị xã N nói riêng ngày càng tăng. Các vụ án ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, tình trạng mua bán nhỏ lẻ, tổ chức sử dụng ma túy diễn ra ngày càng nhiều. Có thể nói ma túy là một tệ nạn đang nhức nhối nhất hiện nay mà
Đảng, nhà nước và nhân dân ta đã và đang quyết tâm loại trừ ra khỏi đời sống xã hội vì ma tuý có tác hại nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ, hạnh phúc của mọi người, mọi nhà và là một trong những nguyên nhân gây ra căn bệnh thế kỷ HIV cũng vì ma tuý mà một loạt các tội phạm khác gia tăng. Các bị cáo đủ nhận thức để hiểu được những tác hại do ma túy gây ra và các hành vi về tàng trữ, mua bán, sử dụng, lôi kéo người khác ... đều vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện và thực hiện tới cùng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến lối sống và thuần phong mỹ tục. Vì vậy cần phải lên cho các bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
[4]. Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo phạm tội trong cùng một vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo có liên quan đến nhau nhưng không mang tính chất đồng phạm với nhau.
Các bị cáo đều lần đầu phạm tội, sau khi phạm tội đã thật thà thành khẩn khai báo nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Lê Tiến D phạm tội mang tính chất rất nghiêm trọng, bị cáo có đầy đủ khả năng, nhận thức về việc làm của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo tuy không mang tính chất lợi nhuận nhưng lại thể hiện bản chất con người ham chơi, đua đòi, lôi kéo người khác tham gia tệ nạn nên cần phải lên cho bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả bị cáo gây ra. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo. Bị cáo phậm tội lần đầu thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, trước và sau khi lượng hình bị cáo đều chấp hành tốt đường lối, chính sách của địa phương, tham gia vào công tác phòng chống dịch cô vít 19 và hỗ trợ kinh phí cho địa phương vì vậy bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS để lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Văn Thị L nhận thức rõ việc mua bán trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm dưới mọi hình thức, bị cáo nhận thức rõ điều này nhưng vẫn cố tình thực hiện vì vậy cần lên mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra. Theo đơn xác nhận của chính quyền địa phương bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, chồng là đối tượng nghiện hiện đang thực hiện biện pháp cai nghiện tập trung, bản thân bị cáo đang nuôi hai con nhỏ, có em trai bị khuyết tật do nhiễm chất độc màu da cam nên khi
lượng hình bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên quá trình tại ngoại tại địa phương bị cáo lại tiếp tục phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý, đây không phải là tình tiết tăng nặng nhưng điều này thể hiện bản thân bị cáo không có ý thức cải tạo, lao động, rèn luyện bản thân.
Xét tính chất mức độ về hành vi phạm tội của các bị cáo cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo bản thân cũng như giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai muốn tham gia vào tệ nạn này.
Xét về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, lại bị áp dụng hình phạt tù vì vậy nghĩ không cần áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS làm hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5]. Xét về vật chứng: Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8 Z 5G, màu xanh kiểu máy CPH2457 có số Imeil: 868062061998333, số Imei2: 868062061998325, bị cáo dùng để liên lạc với D khi thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên đây là điện thoại của chồng bị cáo là Vũ Văn N1, anh N1 không biết bị cáo dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho anh N1. Tuy nhiên hiện nay anh N1 đang cai nghiện tập trung nên trả lại cho bà Vũ Thị H1 là mẹ đẻ anh N1. Bà H1 có trách nhiệm bảo quản và trả lại cho anh N1 sau khi anh N1 thực hiện xong việc cai nghiện tập trung.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh bàn phím cơ lắp sim số thuê bao 0355.312.551 và 0967.022.756 của L và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPP A77S, màu xanh, có số Imeil: 866996066038797; Imei2: 866996066038789, lắp sim số thuê bao 0972.379.820 của D. Các bị cáo sử dụng liên lạc với nhau khi phạm tội nên cần tịch thu bán xung công.
- - Xe mô tô bị cáo D sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội của mình thuộc sở hữu của mình nên được xác định là phương tiện sử dụng vào hành vi phạm tội nên cần tịch thu bán xung công quỹ nhà nước.
- - Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ vật dụng liên quan đến hành vi mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
- - Truy thu số tiền 500.000 đồng từ bị cáo L để xung công quỹ nhà nước, đây là tiền do phạm tội mà có.
- - Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng là công cụ bị cáo sử dụng trái phép chất ma tuý nên cần tịch thu xung công.
Đối với xe đạp điện bị cáo L sử dụng khi đi bán ma tuý cho D thuộc sở hữu của bà Vũ Thị H1 là mẹ chồng bị cáo, bà H1 không biết bị cáo sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên CQĐT đã trả lại xecho bà H1; Đối với chiếc điện thoại Iphone 14 Promax thuộc sở hữu của bị cáo L, quá trình điều tra xác định bị cáo không sử dụng
vào hành vi phạm tội nên CQĐT đã tra lại cho bị cáo. Việc trả lại tài sản cho bà H1 và cho bị cáo của CQĐT là đúng nên HĐXX không xem xét.
Các Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 BLHS
- - Tuyên bố: Bị cáo Văn Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- - Xử phạt; Văn Thị L 27 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 BLHS.
- - Tuyên bố: Bị cáo Lê Tiến D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”
- - Xử phạt: Bị cáo Lê Tiến D 07 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 28/11/2023.
- - Về vật chứng: Áp dụng: điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu một phong bì niêm phong do phòng KTHS Công an tỉnh T phát hành được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Đỗ Hồng Q và các hình dấu của phòng K2 Công an tỉnh T bên trong đựng toàn bộ vỏ gói mở niêm phong của hai phong bì ký hiện V1, V2; 02 túi nilong màu trắng đều có kích thước (4x4)cm, có viền màu xanh tại vị trí kéo khoá túi; 01 túi nilong màu hồng, kích thước (6,5x9)cm (kết quả giám định là Methamphetamine, không xác định được khối lượng); 10 túi nilong màu trắng, kích thước mỗi túi (2x3)cm có viền màu xanh tái vị trí kéo khoá túi; 10 túi nilong màu đen, kích thước mỗi túi (2,5x1,5)cm; 01 hộp giấy cát tông ký hiệu T2 được niêm phong dán kín bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T1, Lại Thị Thanh L5, Lê Hồng Q1 và các hình dấu của Phòng KTHS Công an tỉnh T bên trong đựng toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của hộp giấy kí hiệu D, hộp giấy cát tông không có ký hiệu và một cốc bằng nhựa màu trắng cao 12cm, phần miệng cốc hình tròn, đường kính 08cm, phần đáy cốc hình tròn, đường kính 5,7cm; 01 vỏ chai nhựa trong suốt hình trụ tròn cao 21cm, đường kính đáy 6cm, đường kính miệng 2.5cm, không có nắp đậy, trên vỏ chai có dán nhãn nilong nền màu xanh có dòng chữ “AQUAFINA”, bị rách một phần, trên thân vỏ chai có một lỗ thủng tròn đường kính 0,8cm; 01 hộp giấy kí hiệu C, được gián kín, niêm phong bởi các chữ ký của những người tham gia và hình dấu của Công an phường H, thị xã N bên trong đựng 02 bật lửa ga.
- + Tịch thu xung công quỹ nhà nước 02 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 1.000 đồng;
- + Tịch thu bán xung công quỹ Nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh bàn phím cơ lắp sim số thuê bao 0355.312.551 và 0967.022.756 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPP A77S, màu xanh, có số Imeil: 866996066038797; Imei2: 866996066038789, lắp sim số thuê bao 0972.379.820.
- - Tịch thu bán xung công quỹ nhà nước 01 xe mô tô BKS37L2 – 005.65; xe nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, số khung: RLCUG0610GY236051, số máy:G3D4E-248953, dung tích 149,8cm3, màu sơn trắng, đỏ, xe đã qua sử dụng, không thu hồi được giấy đăng ký xe.
- - Trả lại cho anh Vũ Văn N1 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8 Z 5G, màu xanh kiểu máy CPH2457 có số Imei1: 868062061998333, số I: 868062061998325 (Do anh N1 đang cai nghiện tập trung nên bà Vũ Thị H1 có địa chỉ tại khối D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An là mẹ đẻ anh N1 nhận thay anh N1).
Tất cả các tang vật trên đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu NK2024/82 ngày 17/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- - Truy thu từ bị cáo Văn Thị L số tiền 500.000 đồng xung công quỹ Nhà nước.
- - Án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.
- - Mỗi Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.
- - Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 BL TTHS năm 2015. Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, vắng mặt anh N1. Các Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh N1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật THA dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận THA, quyền yêu cầu THA, tự nguyện THA hoặc bị cưỡng chế THA theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật THA dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THA dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Thị Cúc |
Bản án số 80/2024/HSST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 80/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên khoảng 19h30’ ngày 22/11/2023, tại khu vực mỏ đá thuộc khối F, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, Văn Thị L có hành vi bán trái phép cho Lê Tiến D 05 viên hồng phiến (kết quả giám định là ma túy, loại Methamphetamine) với giá 500.000 đồng. Số ma túy này, D đem về phòng trọ số 10 của Nhà trọ N2 ở tổ dân phố N, phường H, thị xã N tổ chức cho bản thân và 03 người khác, gồm Trần Tồn K1, Nguyễn Thành H và Đỗ Văn L4 sử dụng trái phép trong khoảng thời gian từ 20h00’ đến 20h45’ ngày 22/11/2023. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và cần xử phạt nghiêm theo quy định của pháp luật.
