Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 80/2024/HS-ST

Ngày: 18/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Khánh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Hải Thủy và ông Nguyễn Minh Thắng.

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Tiến Lực – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Đông Hà tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hoàng Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường Nhà văn hóa khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2024/TLST-HS ngày 17/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HS ngày 05/6/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Nhật A; Tên gọi khác: Bảo em; sinh ngày 04/01/1989, tại: Tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: khu phố G, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1946, nghề nghiệp: không và con bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1956, nghề nghiệp: không. Cả hai hiện trú tại khu phố G, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1989, nghề nghiệp: lao động tự do. Hiện trú tại khu phố G, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; con: có 02 con, lớn sinh năn 2020, nhỏ sinh năm 2023. Hiện trú tại khu phố G, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 21/01/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà tuyên phạt 15 tháng 26 ngày tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Đã chấp hành xong.
  • - Ngày 18/7/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà tuyên phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Q. Có mặt.

* Người làm chứng:

  • - Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1988; trú tại: Khu phố F, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
  • - Anh Vương Khánh H1, sinh năm 1997; trú tại: Khu phố I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 17/12/2023, Nguyễn Nhật A sử dụng điện thoại di động có số thuê bao 0968881004 gọi điện cho một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) để đặt mua 35 viên ma túy hồng phiến với giá 350.000 đồng với mục đích vừa sử dụng vừa bán lại cho người khác kiếm lời. Người này đồng ý và giao ma túy đến cửa hàng điện thoại của Nguyễn Nhật A ở địa chỉ số I Quốc lộ I (thuộc Khu phố G, Phường A, thành phố Đ). Số ma túy được gói trong 01 gói nilon trong suốt. Sau khi nhận được ma túy, Anh chia thành các gói nhỏ với mục đích vừa sử dụng cho bản thân vừa bán cho người khác kiếm lời, với giá bán 80.000 đồng/02 viên và 05 viên có giá giao động từ 150.000 đồng đến 200.000 đồng, số tiền lời thu được mỗi viên khoảng từ 20.000 đồng đến 30.000 đồng. Trong thời gian từ ngày 17/12/2023 đến ngày 19/12/2023 Anh đã bán cho nhiều người, trong đó: Vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 19/12/2023, Anh bán cho Nguyễn Thanh H (trú tại: Khu phố F, Phường E, thành phố Đ) 05 viên với giá 200.000 đồng (hưởng lợi 100.000 đồng). Sau khi bán và sử dụng hết số ma túy, Anh tiếp tục liên lạc với người đàn ông trên để mua nhưng không được.

Đến 18 giờ ngày 19/12/2023, khi Anh đang ngồi làm việc tại cửa hàng thì có 02 nam thanh niên đến hỏi để cầm cố tài sản, trong đó có một nam thanh niên tên L (không rõ tên tuổi, địa chỉ). Do biết được L có sử dụng ma túy nên A đặt vấn đề nhờ L đi mua hộ 3.000.000 đồng ma túy thì L đồng ý. Anh đưa tiền cho L rồi ngồi tại cửa hàng đợi. Khoảng 15 phút sau, L quay trở lại đưa cho Anh 01 túi nilon màu đỏ bên trong có chứa ma túy tổng hợp hồng phiến rồi rời đi. Anh mở ra kiểm tra thì thấy có 02 túi nilon, một túi có in dòng chữ “Shalonsip” (có chứa 200 viên màu hồng và 02 viên màu xanh) và 01 túi màu xanh (có chứa 105 viên, gồm 104 viên màu hồng và 01 viên màu xanh). Anh cất giấu túi nilon có dòng chữ “S1” vào hộp giấy rồi đem cất giấu tại tủ trưng bày điện thoại phía trước quán còn túi nilon màu xanh Anh cất giấu vào một hộp nhựa màu hồng để tại bàn làm việc để thuận lợi cho việc bán lẻ cho khách đến mua. Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, Anh bán cho một nam thanh niên tên N1 (không rõ nhân thân, lai lịch) 05 viên ma túy với giá 150.000 đồng. Tiếp đó, Anh dùng các mảnh nilong màu đen chia thành 07 gói nhỏ, mỗi gói chứa 02 viên ma túy màu hồng (tổng là 14 viên) cất giấu vào phần chứa pin của một chiếc điện thoại bàn phím ở trên bàn làm việc của Anh để bán cho người khác kiếm lời.

Đến 15 giờ 20 phút cùng ngày trong lúc Nguyễn Nhật A đang tiếp tục lấy túi nilon màu xanh ra phân chia 86 viên ma túy còn lại vào các mảnh nilong nhỏ màu đen thì bị lực lượng Công an tỉnh Q phát hiện bắt quả tang và thu giữ được toàn bộ số ma túy tổng hợp hồng phiến (gồm 85 viên màu hồng và 01 viên màu xanh).

Quá trình làm việc Nguyễn Nhật A đã tự nguyện giao nộp 216 viên ma túy tổng hợp hồng phiến còn lại mà Nguyễn Nhật A đã cất giấu (202 viên ở túi nilon có dòng chữ “Salonsip” và 14 viên ở phần chứa pin của điện thoại).

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Sau khi bị bắt quả tang, Nguyễn Nhật A tự nguyện khai báo về hành vi cất giấu 216 viên ma túy và lần bán ma túy vào ngày 19/12/2023.

Tại bản kết luận giám định số: 104/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q có kết luận về đối tượng giám định:

  • - 14 viên nén hình trụ tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có dòng chữ WY là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 1,27gam.
  • - 200 viên nén hình trụ tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có dòng chữ WY là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 18,89gam.
  • - 85 viên nén hình trụ tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có dòng chữ WY là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 7,93gam.
  • - 03 viên nén hình trụ tròn, màu xanh gửi đến giám định có khối lượng mẫu là 0,26gam. Không tìm thấy chất ma túy trong viên nén màu xanh.

Tại bản cáo trạng số 82/CT-VKSDH, ngày 17/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố bị cáo Nguyễn Nhật Anh về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận về hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố, rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình mong Hội đồng xét xử, giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm b, i khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm r, s khoản, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật A mức án từ 10 (Mười) năm đến 11 (Mười một) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

* Tịch thu tiêu hủy gồm:

Ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong túi ký hiệu NS2 2108665 bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của phòng K Công an tỉnh Q theo kết luận giám định số 104/KL-KTHS vào ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q và bao gói hoàn lại sau giám định đường vân được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS 043957 bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của của Phòng K Công an tỉnh Q theo kết luận giám định số 167/KL-KTHS vào ngày 12/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q.

* Tịch thu sung công, gồm:

  • + 01 điện thoại di động, loại bàn phím, mặt trước có dòng chữ “mobiado”, đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong;
  • + 01 điện thoại di động, loại bàn phím, mặt trước có dòng chữ “NOKIA", điện thoại không có pin, đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong.
  • + 02 tờ tiền Ngân hàng N2 có mệnh giá 100.000 đồng;
  • + 04 tờ tiền Ngân hàng N2 có mệnh giá 50.000 đồng;

* Trả lại cho bị cáo, gồm:

  • + 01 điện thoại di động, loại cảm ứng, màu hồng, mặt sau có dòng chữ OPPO, đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong; Tạm giữ tài sản trên để đảm bảo thi hành án.

(Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an Thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Đông Hà ngày 10/6/2024).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hợp pháp, phù hợp với các quy định của pháp luật.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Nhật A hoàn toàn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản vụ việc; vật chứng thu giữ; Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 23/12/2023, Nguyễn Nhật A đã có hành vi mua 02 gói ma túy tổng hợp hồng phiến với giá 3.000.000 đồng rồi phân chia cất giấu và bán lại cho người khác kiếm lời. Từ ngày 23/12/2023 đến ngày 25/12/2023, Anh sử dụng và bán 05 viên ma túy cho một nam thanh niên tên N1 (không rõ lai lịch) với giá 150.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ 20 phút ngày 25/12/2023, Anh đang ngồi phân chia 7,93 gam ma túy Methamphetamine để bán thì bị phát hiện, bắt quả tang nên Anh tự nguyện giao nộp 20,16 gam ma túy Methamphetamine cất giấu để bán. Trước đó, vào ngày 19/12/2023, Anh đã bán 05 viên ma túy tổng hợp hồng phiến với giá 200.000 đồng cho Nguyễn Thanh H, hưởng lợi 100.000 đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 82/CT-VKSDH, ngày 17/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố bị cáo Nguyễn Nhật A theo đúng tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.

[3] Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi phạm tội do bị cáo đã thực hiện thuộc loại tội rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ về tác hại của ma túy nhưng vì muốn kiếm tiền nhanh chóng không bằng sức lao động của mình, bị cáo đã thực hiện hành vi bán ma túy cho người khác để thu lời bất chính.

[4] Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:

  • - Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu ngày 21/01/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà tuyên phạt 15 tháng 26 ngày tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, ngày 18/7/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà tuyên phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Khi bị phát hiện, bắt quả tang nên bị cáo tự nguyện giao nộp 20,16 gam ma túy Methamphetamine cất giấu để bán cho cơ quan Công an nên được áp dụng thêm tình tiết tự thú quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, gia đình bị cáo là người có công với cách mạng do đó bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

[6] Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án:

Đối với nam thanh niên tên L mua hộ ma túy cho Nguyễn Nhật A, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã áp dụng các biện pháp điều tra nhưng không xác định được nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với hành vi sử dụng ma túy của Nguyễn Thanh H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

[7] Xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma tuý của bị cáo bị thu giữ và bao gói kèm theo là vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy. Số tiền mệnh giá 100.000 đồng và 50.000 đồng tạm giữ của bị cáo là tiền do bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. 02 chiếc điện thoại di động hiệu “mobiado” và NOKIA (không có pin) đã qua sử dụng là công cụ sử dụng và là nơi cất dấu ma túy nên cần tích thu sung công quỹ Nhà nước. Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại OPPO, đã qua sử dụng.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Quyết định tạm giam của bị cáo Nguyễn Nhật A còn dưới 45 ngày nên HĐXX ra Quyết định tạm giam mới.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhật A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản b, i Khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật A 10 (M) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 25/12/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

* Tịch thu tiêu hủy, gồm:

Ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong túi ký hiệu NS2 2108665 bên ngoài có chữ ký có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của phòng K Công an tỉnh Q theo kết luận giám định số 104/KL-KTHS vào ngày 29/12/2023 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Q và bao gói hoàn lại sau giám định đường vân được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS 043957 bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của của Phòng K Công an tỉnh Q theo kết luận giám định số 167/KL-KTHS vào ngày 12/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q.

* Tịch thu sung công, gồm:

  • + 01 điện thoại di động, loại bàn phím, mặt trước có dòng chữ “mobiado”, đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong;
  • + 01 điện thoại di động, loại bàn phím, mặt trước có dòng chữ “NOKIA", điện thoại không có pin, đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong.
  • + 02 tờ tiền Ngân hàng N2 có mệnh giá 100.000 đồng; 04 tờ tiền Ngân hàng N2 có mệnh giá 50.000 đồng (Hiện đang được giữ tại tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà số 39490104787500000 mở tại Kho bạc nhà nước tỉnh Q).

* Trả lại cho bị cáo, gồm:

  • + 01 điện thoại di động, loại cảm ứng, màu hồng, mặt sau có dòng chữ OPPO, đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong. Tạm giữ tài sản trên để đảm bảo thi hành án.

(Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an Thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Đông Hà ngày 10/6/2024).

3. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Bị cáo Nguyễn Nhật A phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tp Đông Hà;
  • - Công an tp Đông Hà, tỉnh Q.Trị;
  • - Chi cục THADS tp Đông Hà, tỉnh Q.Trị;
  • - Bị cáo;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Lưu HS vụ án, THCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Ngô Thị Khánh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 80/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger