|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 80/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17-8-2024
“V/v xin ly hôn, chia tài sản chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Mộng Thúy
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Duyên.
- Bà Trần Thu Trang
Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 17 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 319/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 179/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Danh T, sinh ngày 19/5/1999 (có mặt)
- Bị đơn: Bà Thị Thúy K; sinh ngày 01/01/2005 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- - Theo đơn khởi kiện và lời trình bày tại Tòa án của nguyên đơn là ông Danh T:
Ông Danh T và bà Thị Thúy K qua tìm hiểu tự nguyện chung sống với nhau, gia đình hai bên có tổ chức lễ cưới vào tháng 02/2023 (ÂL) nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chung sống cả hai không hòa hợp, hôn nhân không hạnh phúc, không tình cảm vợ chồng với nhau. Nay ông T nhận thấy không thể tiếp tục chung sống hôn nhân với bà K được nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Về con chung: Ông Danh T xác định ông và bà Thị Thúy K không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Ông Danh T xác định ông và bà Thị Thúy K có tài sản gồm: 08 chỉ vàng 24k, 07 chỉ vàng 18k, yêu cầu chia đôi. Đối với số tiền ông T nạp tài cho nhà bà K 40.000.000 đồng; tiền mâm bánh 10.000.000 đồng; tiền làm hồ, công đi làm đưa bà K giữ 22.000.000 đồng ông T không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Ông Danh T xác định ông và bà Thị Thúy K không có nợ ai và cũng không có ai nợ lại ông bà nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Theo lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là bà Thị Thúy K:
Bà K thống nhất lời trình bày của ông T, về quan hệ hôn nhân vợ chồng chung sống không hạnh phúc, bà đồng ý ly hôn với ông T. Vợ chồng không có con chung. Về tài sản chung khi cưới gia đình ông T cho 08 chỉ vàng 24k, gia đình bà K cho 07 chỉ vàng 18k. Ông T có nạp tài cho nhà bà K 40.000.000 đồng; mâm bánh có nhận nhưng không biết số tiền là bao nhiêu; tiền làm hồ, công đi làm ông T có đưa bà K giữ nhưng không nhớ số tiền cụ thể. Về tài sản chung bà K không đồng ý chia tài sản chung vì bà đã sử dụng hết nhưng không có tài liệu chứng minh. Về nợ chung: Bà Thị Thúy K xác định bà và ông Danh T không có nợ ai và cũng không có ai nợ lại ông bà nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
- - Nguyên đơn - ông Danh T giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn và chia đôi tài sản chung gồm 08 chỉ vàng 24k, 07 chỉ vàng 18k, không yêu cầu giải quyết số tiền ông T nạp tài cho nhà bà K 40.000.000 đồng; tiền mâm bánh 10.000.000 đồng; tiền làm hồ, công đi làm đưa bà K giữ 22.000.000 đồng theo đơn khởi kiện. Vợ chồng không có con chung, không có nợ chung.
- - Bị đơn - bà Thị Thúy K vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Danh T có đơn khởi kiện xin ly hôn với bà Thị Thúy K. Bị đơn bà Thị Thúy K cư trú tại ấp B, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đây là vụ kiện về việc “Ly hôn, chia tài sản chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn - bà Thị Thúy K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Danh T: Ông Danh T và bà Thị Thúy K tự nguyện đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên không phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Ông T khởi kiện xin ly hôn bà K với lý do: Giữa ông và bà K hôn nhân không hòa hợp, vợ chồng không yêu thương nhau, không nghĩa vụ vợ chồng khi chung sống cùng nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã hòa giải, động viên để vợ chồng đoàn tụ và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nhưng không thành. Do đó, căn cứ vào Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng kết hôn để giải quyết theo quy định pháp luật.
Về con chung: Ông Danh T và bà Thị Thúy K xác định trong thời gian chung sống vợ chồng không có con chung nên không xem xét.
Về tài sản chung: Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa ông Danh T có yêu cầu chia đôi tài sản chung gồm 08 chỉ vàng 24k, 07 chỉ vàng 18k, hiện bà K là người giữ tài sản. Bà K thừa nhận có giữ tài sản 08 chỉ vàng 24k, 07 chỉ vàng 18k nhưng bà K đã chi xài hết. Căn cứ Điều 91, Điều 93 về nghĩa vụ chứng minh và chứng cứ, bà K không cung cấp được tài liệu chứng minh đã sử dụng tài sản chung trong thời gian vợ chồng chung sống nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận lời khai của bà K và xác định tài sản chung vợ chồng của ông T, bà K là 08 chỉ vàng 24k, 07 chỉ vàng 18k chia đôi theo quy định pháp luật.
Tại đơn khởi kiện ông T có yêu cầu giải quyết số tiền ông T nạp tài cho nhà bà K 40.000.000 đồng; tiền mâm bánh 10.000.000 đồng; tiền làm hồ, công đi làm đưa bà K giữ 22.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông T rút lại yêu cầu này. Căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự quy định về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện, Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu chia tài sản gồm tiền nạp tài cho nhà bà K 40.000.000 đồng; tiền mâm bánh 10.000.000 đồng; tiền làm hồ, công đi làm đưa bà K giữ 22.000.000 đồng.
Về nợ chung: Ông Danh T và bà Thị Thúy K xác định ông bà không có nợ ai và cũng không có ai nợ lại ông bà nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ông T và bà K phải nộp theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn Điều 51, khoản 2 Điều 53, Điều 58 và Điều 59 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Danh T và bà Thị Thúy K.
- Về con chung: Không có nên không xem xét.
-
Về tài sản chung: Chia đôi tài sản chung gồm: 08 chỉ vàng 24k, 07 chỉ vàng 18k (số tài sản này bà K đang giữ). Buộc bà Thị Thúy K phải có nghĩa vụ giao lại cho ông D Thiệt 04 chỉ vàng 24k và 3,5 chỉ vàng 18k.
- Đình chỉ đối với yêu cầu chia tài sản gồm: Số tiền ông T nạp tài cho nhà bà K 40.000.000 đồng; tiền mâm bánh 10.000.000 đồng; tiền làm hồ, công đi làm đưa bà K giữ 22.000.000 đồng.
- Về nợ chung: Ông Danh T và bà Thị Thúy K xác định ông bà không có nợ ai và không có ai nợ lại ông bà nên không xem xét.
-
Về án phí: Nguyên đơn ông Danh T phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng và án phí có giá ngạch đối với giá trị tài sản được chia là [(04 chỉ vàng 24k x 7.600.000 đồng) + (3,5 chỉ vàng 18k x 5.700.000 đồng)] x 5% = 2.517.000 đồng. Tổng án phí ông T phải nộp là (án phí ly hôn 300.000 đồng + án phí tài sản được chia 2.517.000 đồng) = 2.817.000 đồng (Hai triệu tám trăm mười bảy nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.000.000 đồng theo biên lai thu số 0009060 ngày 11/12/2023 và 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003187 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Ông Danh T được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí sơ thẩm chênh lệch (tổng tạm ứng án phí đã nộp 3.300.000 đồng – số tiền án phí phải nộp 2.817.000 đồng), số tiền được hoàn lại là 483.000 đồng (Bốn trăm tám mươi ba nghìn đồng).
Bà Thị Thúy K phải chịu án phí có giá ngạch đối với giá trị tài sản được chia là [(04 chỉ vàng 24k x 7.600.000 đồng) + (3,5 chỉ vàng 18k x 5.700.000 đồng)] x 5% = 2.517.000 đồng (Hai triệu năm trăm mười bảy nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Ông T có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà K vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Trần Mộng Thúy |
Bản án số 80/2024/HNGĐ-ST ngày 17/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn, chia tài sản chung
- Số bản án: 80/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cháp nhận
