Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

—————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 80/2024/HSST

Ngày: 17-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Xuân.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Kiều Thu.
  2. Ông Nguyễn Bính .

-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Giang Ngọc Hà - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2024/TLST- HS ngày 19 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST- HS ngày 02/42024, đối với các bị cáo:

  1. Trần Đình P- Sinh năm 2000 tại tỉnh Bình Thuận

    Nơi ĐKHKTT: Khu phố E, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.Chỗ ở hiện nay: khu phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh Giới tính: nam. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: không.Trình độ học vấn: 8/12;Nghề nghiệp: Thợ sửa xe máy.Con ông: Trần Đình C, sinh năm: 1977 và bà Lê Thị Q (chết), sinh năm: 1977.Vợ (không đăng ký kết hôn): Phạm Thị Thu H, sinh năm: 1998.Con: Chưa có.Tiền án, tiền sự: không.Nhân thân: không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 03/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố P.

  2. Trương Quang T; Sinh năm 1996 tại tỉnh Bình Thuận

    Nơi cư trú: Khu phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.Dân tộc: Kinh. Giới tính: nam. Quốc tịch: Việt Nam.Tôn giáo: không.Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Thợ hớt tóc.Con ông: Trương Quốc T1, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1965.Vợ, con: chưa có.Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 04/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố P.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 25/7/2023, Trần Đình P đến khu vực Dinh Vạn Thủy T3 thuộc phường Đ đưa 4.200.000 đồng, nhờ đối tượng tên C1 (không rõ nhân thân) mua giùm “hộp 10” ma túy đá (tức 10 gam ma túy). Khoảng 01 tiếng sau, C1 quay lại, đưa P 01 gói ma túy thì P đem về cất giấu tại phòng trọ số E P đang thuê ở tại khu phố H, phường Đ, thành phố P. P sử dụng một phần trong khối lượng ma túy này để sử dụng cho bản thân và bán cho khoảng 03 con nghiện với tổng số tiền là 300.000 đồng, phần ma túy còn lại P tiếp tục cất giữ trong phòng trọ .

Đến khoảng 22 giờ ngày 01/8/2023, P liên lạc qua mạng xã hội Zalo với Trương Quang T hỏi mua “1 hộp 10” ma túy đá thì T được T đồng ý bán với giá 4.200.000đ. Ngay sau đó, X (bạn gái T, không rõ nhân thân) đến phòng trọ của P lấy số tiền 4.200.000đ;

Khi X đưa tiền về, T cầm tiền rồi một mình điều khiển xe mô tô đến khu vực cầu K thuộc phường P. Tại đây, T liên lạc qua mạng xã hội Zalo với đối tượng tên L (không rõ nhân thân, T không nhớ tên tài khoản zalo của L) hỏi mua “hộp 10" ma túy đá thì L báo giá 4.000.000 đồng. Khoảng 10 phút sau, L điều khiển xe mô tô đến (T không nhớ biển số), đưa T 01 gói nylon, bên trong có ma túy đá thì T đưa L 4.000.000 đồng. T đem ma túy về nhà cất giấu trong lỗ gạch của trụ cổng bên trái ở trước nhà T.

Đến khoảng 23 giờ ngày 01/8/2023, T nhắn tin qua mạng Zalo cho P, bảo “Qua lấy đi”, P hiểu là T bảo đến lấy ma túy, do vậy đã đi bộ một mình đến nhà T ở khu phố H, phường Đ, thành phố P thì thấy T đang đứng trước cổng, T chỉ tay vào trụ cổng bên trái nhà T, thì P hiểu T chỉ chỗ giấu ma túy nên P đi tới, lấy trong lỗ gạch trụ cổng 01 gói ma túy.

Sau đó P mang gói ma túy này về phòng trọ trộn chung với số ma túy còn lại mà P đã nhờ C1 mua, rồi lấy ra một phần ma túy, phân chia thành nhiều tép nhỏ nhằm mục đích bán và sử dụng. Số ma túy còn lại, P để trong gói nylon lớn, hàn kín lại rồi giấu trong túi vải màu đen để trên gác của phòng trọ.

Từ ngày 01/8/2023 đến ngày 02/8/2023, P đã bán ma túy cho nhiều con nghiện khong rõ nhân thân. Ngày 03/8/2023, P bán ma túy cho 02 con nghiện (P không rõ nhân thân) với số tiền là 300.000 đồng.

Đến khoảng 15 giờ ngày 03/8/2023, Đội CSĐT tội phạm về ma túy – Công an thành phố P phối hợp với Công an phường Đ kiểm tra phòng trọ của P thì phát hiện trên gác cạnh nơi P nằm ngủ có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, 01 túi vải màu đen bên trong chứa 01 gói nylon lớn không màu, có nhíp kéo một đầu bằng nhựa, bên trong chứa tinh thể màu trắng( Ký hiệu Mẫu M1 khi giám định ) ; 01 gói nylon nhỏ, không màu, hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng(Ký hiệu Mẫu M2 khi giám định ); 01 cân tiểu li màu đen có viền bằng kim loại. Lực lượng Công an thu giữ các tang vật trên và một số đồ vật có liên quan rồi đưa P về trụ sở làm việc.

Quá trình điều tra, T khai nhận nguồn gốc “hộp 10” ma túy đá T bán cho P là T mua của một đối tượng tên L (không rõ nhân thân) tại khu vực cầu K, thành phố P với giá 4.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 981/KLGĐ-PC09 ngày 10/8/2023, Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • “- Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 13,6532 gam, là Methamphetamine.
  • - Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,0766 gam, là Methamphetamine”.

Như vậy tổng khối lượng Methamphetamine mà Trần Đình P tàng trữ để sử dụng và bán là 13,7298 gam.

*Tại bản cáo trạng số 259/CT- VKSPT-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Trần Đình P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Trương Quang T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

*Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát đã giữ nguyên quan điểm truy tố tại cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

  1. Áp dụng quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 01điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Đình P từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng quy định tại khoản 01 Điều 251, điểm s khoản 01điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Quang T từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  3. Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng quy định tại điểm a khoản 01 điều 46 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 02, điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
    • -Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng đã thu giữ trong vụ án gồm :
    • + 01 gói nylon không màu, có khóa nhựa kéo một đầu, kích thước khoảng (6,5 x 08) cm; 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước khoảng (01 x 03) cm, đã cắt lấy mẫu; 13,4591 gam mẫu M1 còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì niêm phong số 981, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T4 và hình dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 cân tiểu li màu đen, có viền kim loại; 01 túi vải màu đen; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế gồm: 01 chai nhựa màu trắng, có dán nhãn R, nắp màu trắng được đục hai lỗ; 01 ống hút nhựa màu đỏ - trắng; 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu;
    • - Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, màu xanh dương, mặt sau điện thoại có in chữ “OPPO”, có số IMEI: 865222047671759, điện thoại gắn sim số: 0922.237.xxx và 0941246857 thu giữ của Trần Đình P đã sử dụng liên lạc mua ma túy ;

- Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 300.000 đồng tiền Việt Nam, thu giữ của Trần đình phước là tiền thu được từ việc bán ma túy trong vụ án.

- Đề nghị tuyên buộc Trương Quang T nộp lại 200.000đ tiền thu lợi từ việc bán trái phép chất ma túy để sung vào Ngân sách nhà nước.

Lời nói sau cùng bị cáo Trần Đình P và Trương Quang T đều trình bày: Hội đồng xem xét khoan hồng giảm nhẹ hình phạt, hứa sẽ cố gắng cải tạotrở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
  2. Về đánh giá chứng cứ, xác định tội danh của các bị cáo:
    1. Tại phiên tòa bị cáo Trần Đình P đã khai nhận hành vi phạm tội : Từ ngày 25/7/2023 đến ngày 01/8/2023 Trần Đình P đã mua 10 gam ma túy đá (Methamphetamine) của một đồi tượng tên C1 và 10 gam ma túy đá của Trương Quang T, sau đó dồn chung khối lượng ma túy này cất giấu trong túi vải màu đen để trong phòng trọ để sử dụng và phân thành một số tép nhỏ ma túy để bán cho một số con nghiện. Đến ngày 03/8/2023 thì P bị cơ quan chức năng phát hiện, thu giữ tại phòng trọ khối lượng ma túy còn lại là 13,7298 gam Methamphetamine (Theo kết luận giám định số 981/KLGĐ-PC09 ngày 10/8/2023, Phòng K Công an tỉnh B).

      Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với kết quả giám định chất ma túy của Phòng K của Công an tỉnh B và các tài liệu chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở để kết luận:

      Hành vi tàng trữ 13,7298 gam Methamphetamine, nhằm mục đích mua bán và sử dụng do Trần Đình P thực hiện trong vụ án đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung hình phạt: “...Methamphetamine, có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

    2. Đối với bị cáo Trương Quang T tại cơ quan điều tra và truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội .

Xét lời khai nhận tội của bị cáo và đánh giá chứng cứ do cơ quan điều tra, truy tố thu thập tại hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử nhận thấy:

  • - Các bị cáo Trần Đình P và Trương Quang t khai thống nhất phù hợp với nhau về giá tiền và khối lượng chất ma túy mua bán trong vụ án, cụ thể : Với khối lượng 10 gam Methamphetamine thì giá mua bán là 4,2 triệu đồng. Trước khi mua ma túy của T khoảng 05 ngày, P cũng đã mua 10 gam ma túy của một đối tượng tên C1 cũng giá tiền 4,2 triệu đồng ;
  • - Tại phiên tòa và biên bản ghi lời khai (BL 127, 128) Trần Đình P còn xác nhận : Sau khi mua ma túy của C1 và T mang về nhà, thì P đều cân lại để biết chính xác người bán có bán đúng khối lượng, số tiền mà P đã mua hay không, và khối lượng ma túy T bán cho P đã được Phước cân lại là đúng 10 gam (Vật chứng thu giữ của P trong vụ án có cân tiểu ly bị cáo sử dụng để cân ma túy).
  • -Theo P khai: Từ ngày 25/7 đến ngày 01/8/2023 P chỉ mua tổng cộng 20 gam ma túy của C1 và T, ngoài ra không mua ma túy của ai khác, Tài liệu chứng cứ điều tra cho thấy khi khám xét, bắt giữ Trần Đình P đã thu giữ tại phòng trọ của P khối lượng ma túy là 13,7298 gam Methamphetamine ( mẫu M1 và mẫu M2)

Như vậy lời khai nhận tội của bị cáo Trương Quang T tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, truy tố là phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo Trần Đình P, phù hợp với vật chứng thu giữ : là khối lượng ma túy thu giữ khi bắt giữ Trần Đình P là 13,7298 gam Methamphetamine, nên đã chứng minh được khối lượng chất ma túy các bị cáo mua bán trong vụ án là Methamphetamine có khối lượng trên 05 gam và dưới 30 gam. Ngoài ra không có tài liệu chứng cứ nào xác định khối lượng ma túy T bán cho P là dưới 05 gam cả.

Do vậy đã đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 01/8/2023, tại khu phố H, phường Đ thành phố P, Trương Quang T đã bán cho Trần Đình P 10 gam ma túy là Methamphetamine, với giá 4,2 triệu đồng.Hành vi này của Trương Quang T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung hình phạt: “ Methamphetamine, có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt quy định tại khoản 01 điều 251 Bộ luật Hình sự là không phù hợp với tình tiết chứng cứ khách quan của vụ án .

  1. Đánh giá nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

    Các bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.

    Xét các bị cáo nhận thức rõ chất M là một trong những loại ma túy thuộc trong danh mục chất ma túy mà nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ sử dụng, vận chuyển, mua bán ...vv. vì tác dụng nguy hại của nó đối với sức khỏe con người và cộng đồng xã hội. Thế nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện các hành vi tàng trữ nhằm mục đích mua bán để thu lợi nhuận và sử dụng trái phép.

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy do các bị cáo thực hiện trong vụ án là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý về chất ma túy của nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an địa phương. Do vậy cần thiết phải xử lý nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục riêng và phòng chống tội phạm ma túy nói chung.

  1. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Các bị cáo phạm tội nhưng không có tình tiết tăng nặng.

    Bị cáo Trần Đình P, Trương Quang T đều đã thành khẩn khai báo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm s, khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Bị cáo Trương Quang T có ông nội là người có công trong sự nghiệp kháng chiến gìn giữ đất nước được Thủ tướng chính phủ ghi công ( Liệt sỹ ) nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự tại khoản 02 điều 51 Bộ luật Hình sự.

  2. Đối với đối tượng tên C1 và L, đã bán ma túy cho các bị cáo trong vụ án, chưa làm rõ được họ tên, nhân thân và địa chỉ, do vậy chưa thể xử lý trong cùng vụ án.
  3. Về xử lý vật chứng:

    Đối với chất ma túy thu giữ của bị cáo P trong vụ án và mẫu vật còn lại sau khi giám định là 13,4591 gam mẫu M1, được niêm phong trong phong bì niêm phong số 981, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T4 và hình dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 cân tiểu li màu đen, có viền kim loại; 01 túi vải màu đen; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế gồm: 01 chai nhựa màu trắng, có dán nhãn R, nắp màu trắng được đục hai lỗ; 01 ống hút nhựa màu đỏ - trắng; 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu; Đây là các vật chứng không có giá trị sử dụng, trong đó có chất ma túy là nhà nước cấm lưu hành do vậy cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 01 điều 46, điểm a,c khoản 01 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 02, điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

    Đối với số tiền 300.000 đồng tiền thu giữ của Trần Đình P là tiền thu được từ việc phạm tội bán trái phép chất ma túy, do vậy cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 01 điều 46, điểm b khoản 01 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 02, điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

    Theo tài liệu chứng cứ thu thập được, đã xác định Trần Đình P đã giao cho Trương Quang T số tiền mua ma túy là 4,2 triệu đồng, tuy nhiên T khai chỉ hưởng lợi 200.000đ trong số tiền này và đã giao 04 triệu đồng cho đối tượng L, do vậy số tiền 04 triệu đồng này sẽ xử lý sau khi làm rõ được đối tượng tên L, đồng thời cần buộc Trương Quang T nộp lại số tiền 200.000 đồng, thu được từ việc bán trái phép chất ma túy trong vụ án.

    Đối với điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, màu xanh dương, mặt sau điện thoại có in chữ “OPPO”, có số IMEI: 865222047671759, điện thoại gắn sim số: 0922.237.xxx và 0941246857 thu giữ của Trần Đình P đã sử dụng liên lạc mua ma túy do vậy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 01 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 02, điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

  4. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào quy định điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

    *Tuyên bố: Các bị cáo Trần Đình P, Trương Quang T cùng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  2. Căn cứ vào quy định điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 01 điều 51 Bộ luật hình sự.

    * Xử phạt: Bị cáo Trần Đình P 08 (T5) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 03/8/2023.

  3. Căn cứ vào quy định điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 0, khoản 02 điều 51 Bộ luật hình sự.

    * Xử phạt: Bị cáo Trương Quang T 07 (B) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 04/8/2023.

  4. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 01 điều 46, điểm a, b, c khoản 01 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c, b khoản 02 điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
    • - Tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng nhà nước cấm lưu hành gồm: chất ma túy Methamphetamine và các mẫu vật còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì niêm phong số 981, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T4 và hình dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B;
    • - Tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng hiện không có giá trị sử dụng gồm : 01 cân tiểu li; 01 túi vải màu đen; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế gồm: 01 chai nhựa màu trắng, có dán nhãn R, nắp màu trắng được đục hai lỗ; 01 ống hút nhựa màu đỏ - trắng; 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu.
    • - Tuyên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 300.000đ thu giữ của Trần Đình P do đây là tiền do phạm tội mà có.
    • -Tuyên buộc Trương Quang T nộp lại 200.000đ tiền do phạm tội mà có, để sung vào ngân sách nhà nước.
    • - Tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, màu xanh dương, mặt sau điện thoại có in chữ “OPPO”, có số IMEI: 865222047671759, điện thoại gắn sim số: 0922.237.xxx và 0941246857 thu giữ của Trần Đình P do đã sử dụng liên lạc mua ma túy ;

(Tài sản vật chứng được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản số 89 ngày 06/02/2024 và Giấy nộp tiền ngày 25/01/2024 của Ngân hàng V vào tài khoản tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết)

  1. Về án phí: Tuyên buộc các bị cáo Trương Quang T và Trần Đình P, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/4/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tp Phan Thiết;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an tp P1;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND địa phương nơi b/c thường trú;
  • - Thi hành án thành phố Phan T6;
  • - Lưu hồ sơ,

TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

T - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Như Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HSST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 80/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hành vi của P và T thuộc tình tết định khung tại khoản 02 điều 251 BLHS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger