Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17 - 4 - 2024

V/v Tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Bình An

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Trần Thị Đổi

Ông Nguyễn Thanh Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QÐST – HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị Y, sinh năm 1992

Địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.

Tạm trú: Ấp Chánh, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

Bị đơn: Anh Nguyễn Đức P, sinh năm 1984

Địa chỉ: Ấp G, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Tạm trú: Ấp Chánh, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

(Chị Y xin vắng mặt, anh P vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và quá trình giải quyết vụ án, chị Trịnh Thị Y trình bày: Chị và anh P chung sống với nhau vào năm 2006 không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chị và anh P chung sống hạnh phúc, đến tháng 5 năm 2022 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh P đam mê cờ bạc, thường xuyên cãi nhau, nên chị và anh P đã ly thân nhau từ tháng 02 năm 2023 cho đến nay.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh P có 02 con chung tên Trịnh Đức P1, sinh ngày 22/10/2007 và Trịnh Nguyễn Khánh N sinh ngày 29/7/2022, hiện nay chị đang nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Chị và anh P không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Chị và anh P không có, không yêu cầu giải quyết.

Nay chị xin ly hôn với anh Nguyễn Đức P, khi ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi hai con chung tên Trịnh Đức P1, sinh ngày 22/10/2007 và Trịnh Nguyễn Khánh N sinh ngày 29/7/2022, chị không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con, ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.

Tại lời trình bày của anh Nguyễn Đức P: Anh P vắng mặt không có lời trình bày.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ anh P vắng mặt công khai chứng cứ, hòa giải, chị Y xin xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

  1. Chị Trịnh Thị Y xin ly hôn với anh Nguyễn Đức P là thuộc quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình.
  2. Anh Nguyễn Đức P là bị đơn có địa chỉ tạm trú tại ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  3. Chị Trịnh Thị Y có đề nghị xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Đức P vắng mặt không có lý do, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Y và anh P theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

  1. Chị Trịnh Thị Y cho rằng chị và anh P chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến tháng 5 năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do anh P đam mê cờ bạc, thường xuyên cãi nhau nên chị và anh P đã ly thân nhau từ tháng 02 năm 2023 cho đến nay.

Đối với anh Nguyễn Đức P vắng mặt không có lý do, mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ.

Thấy rằng: Chị Trịnh Thị Y và anh Nguyễn Đức P chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2006 nhưng không có đăng ký kết hôn đã vi phạm Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử không công nhận giữa chị Trịnh Thị Y và anh Nguyễn Đức P là vợ chồng.

  1. Về con chung: Chị Y và anh P chung sống có 02 con chung tên Trịnh Đức P1, sinh ngày 22/10/2007 và Trịnh Nguyễn Khánh N sinh ngày 29/7/2022, hiện nay do chị Y đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị Y xin tiếp tục được nuôi hai con chung. Đối với anh P từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay, anh P vắng mặt cũng không có lời trình bày về việc xin nuôi con của chị Y. Thấy rằng; Từ khi chị Y và anh P ly thân với nhau, chị Y là người trực tiếp nuôi con, đồng thời cháu Trịnh Đức P1 có nguyện vọng muốn sống với chị Y, ngoài ra cháu Trịnh Nguyễn Khánh N sinh ngày 29/7/2022 dưới 36 tháng tuổi. Do đó cần giao cho chị Y tiếp tục nuôi hai con chung là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Cấp dưỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện và bản tự khai chị Trịnh Thị Y không yêu cầu anh Nguyễn Đức P cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  1. Về tài sản chung: Chị Y khai không có, anh Nguyễn Đức P không có lời trình bày, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
  2. Về nợ chung: Chị Trịnh Thị Y khai không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Y phải chịu án phí ly hôn sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 9, Điều 14 Điều 53 Điều 81 Điều 82 Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị Y đối với anh Nguyễn Đức P về việc “Ly hôn”.
    • Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Trịnh Thị Y và anh Nguyễn Đức P là vợ chồng.
    • Về con chung: Chị Trịnh Thị Y được tiếp tục nuôi hai con chung tên Trịnh Đức P1, sinh ngày 22/10/2007 và Trịnh Nguyễn Khánh N sinh ngày 29/7/2022 (hiện do chị Y đang nuôi dưỡng). Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị Y không yêu cầu.

Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Khi cần thiết các bên có thể thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về tài sản chung: Chị Y khai không có nên không xem xét.
  2. Về nợ chung: Chị Y khai không có nên không xem xét.
  3. Án phí: Buộc chị Trịnh Thị Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sung vào ngân sách Nhà nước. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005981 ngày 10/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa sang án phí để thi hành, như vậy chị Y không phải nộp tiếp.

Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Long An;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

Đỗ Bình An

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HNGĐ-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA – TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 80/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA – TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Y yêu cầu ly hôn ông P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger