Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM THÀNH

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/HS-ST

Ngày: 14-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sao Hôm và ông Nguyễn Văn Giang.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Phạm Trường Giang và bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Ngô Đức N

    , sinh năm 1997 tại huyện K, tỉnh Hải Dương.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Huy T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2;

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện K từ ngày 26/6/2024 đến ngày 02/7/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H từ ngày 02/7/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

  2. Ngô Văn L

    , sinh năm 1995 tại huyện K, tỉnh Hải Dương.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Văn T3 và bà Đồng Thị C; có vợ là Bùi Thùy L1 và 2 con;

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện K từ ngày 26/6/2024 đến ngày 02/7/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K từ ngày 02/7/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Anh Đồng Chí T4 (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 26/6/2024, Ngô Văn L sử dụng điện thoại di động Samsung Galaxy A02S (không lắp sim) của L gọi điện qua ứng dụng Messenger đến tài khoản Facebook có tên Nguyễn Thanh T5 của một người không rõ lai lịch hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá, mục đích để sử dụng và để bán kiếm lời. Người này bảo L đến lỗ cây cột điện ở chợ Chiều thuộc thôn H, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương lấy ma tuý và để tiền vào đó. L đi xe buýt đến địa điểm trên thì thấy trong lỗ cây cột điện có 01 bọc giấy màu trắng bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa ma tuý đá. L cầm túi ma túy và đem vứt giấy gói bên ngoài đi, sau đó để 300.000 đồng vào lỗ cây cột điện rồi đi về nhà, lấy một ít ma túy mua được ra sử dụng. Khoảng 13 giờ 55 phút cùng ngày, khi L đang ở nhà thì Ngô Đức N (ở cùng thôn P, xã K, huyện K với L) sử dụng điện thoại di động Vivo của N, lắp sim thuê bao số 0904.728.797, nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho L hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá. L nhắn tin lại cho N bảo L chỉ còn ít ma túy, không đủ bán. N gọi điện cho L qua ứng dụng M hỏi L còn bao nhiêu ma túy, L bảo chỉ còn lượng ma túy bán với số tiền 250.000 đồng, N đồng ý mua. L nhắn tin bảo N chuyển tiền vào Ví MoMo của L, sau đó L cầm túi ma tuý còn lại nêu trên đi bộ sang nhà N, gặp N đang đứng ở cổng cùng với anh Nguyễn Đức T6 (là nhân viên giao hàng). L đi thẳng vào phòng ngủ nhà N thì thấy Đ T4 đang ngồi chơi ở ghế. L ngồi lên giường và để túi ma tuý đá bên cạnh. Lúc này, N đứng ngoài cổng đưa cho anh T6 số tiền 290.000 đồng nhờ anh Trung chuyển tiền từ tài khoản của anh T6 vào tài khoản của N mở tại ngân hàng V. Khoảng hơn 14 giờ cùng ngày, sau khi nhờ anh Trung chuyển tiền xong, N đi vào phòng ngủ thì nhìn thấy gói ma túy Luân để trên giường. L nhìn túi ma túy và bảo N: “đấy”. N hiểu đó là túi ma túy đá L đem đến bán cho N, nên N sử dụng điện thoại di động chuyển số tiền 250.000 đồng từ Ví MoMo của N đến Ví MoMo của L. Sau đó, N lấy ở trong gầm giường ra bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá, gồm: 01 chai nhựa màu trắng, trên nắp chai được đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu trắng và 01 lỗ gắn coóng thuỷ tinh, rồi N cầm túi ma túy mua của L đem đổ hết vào coóng thuỷ tinh, ngồi dưới nền nhà dùng bật lửa ga hơ nóng bầu coóng, sau đó để bật lửa xuống dưới nền nhà. Lúc này, T4 lấy bật lửa hơ coóng thuỷ tinh và là người sử dụng ma túy đầu tiên bằng hình thức hút, tiếp đến là N. Thấy vậy, L cũng ngồi xuống nền nhà sử dụng ma túy cùng với T4 và N. N không nói gì, đồng ý để cho T4 và L cùng sử dụng ma túy. Hồi 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi N, L và T4 đang sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ của N thì bị Tổ công tác thuộc Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế ma tuý Công an huyện K phối hợp với Công an xã K kiểm tra. Cơ quan công an đã thu giữ dưới nền nhà trước mặt N, L và T4 đang ngồi 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá gồm: 01 chai nhựa màu trắng, trên nắp chai được đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn coóng thuỷ tinh, trong bầu coóng còn bám dính chất màu nâu (niêm phong ký hiệu Mẫu M1); 01 vỏ túi nilon màu trắng, bên trong túi còn bám dính chất rắn dạng tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu Mẫu M2) và 01 bật lửa ga. Ngoài ra, lực lượng Công an còn quản lý của N chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A02S và quản lý của L chiếc điện thoại di động Vivo, kèm theo 01 sim điện thoại.

Tại bản Kết luận giám định số 331/KL-KTHS ngày 28/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: Quá trình giám định có tìm thấy chất ma tuý, loại Methamphetamine trong mẫu chất màu nâu bám dính bên trong coóng thuỷ tinh, được niêm phong trong phong bì ký hiệu Mẫu M1 gửi đến giám định, lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng; Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong túi nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu Mẫu M2 gửi đến giám định, là ma tuý loại Methamphetamine, lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. H lại đối tượng giám định gồm: 01 coóng thuỷ tinh và 01 vỏ phong bì ký hiệu Mẫu M1 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định trong phong bì niêm phong ký hiệu T1; 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì ký hiệu Mẫu M2 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định trong phong bì niêm phong ký hiệu T2.

Kết quả kiểm tra mẫu nước tiểu của Ngô Đức N, Ngô Văn L và Đ Thế ngày 26/6/2024 đều dương tính với M1.

Ngày 10/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K ra văn bản thông báo cho Tổng công ty V1 thu hồi số thuê bao di động 0904.728.797 do Ngô Đức N sử dụng vào việc phạm tội.

Tại Cáo trạng số: 76/CT-VKS ngày 08/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện K, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Ngô Đức N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Ngô Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố và xin được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện VKSND huyện Kim Thành giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ngô Đức N phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy", bị cáo Ngô Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 (đối với N), khoản 1 Điều 251 (đối với L), Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo N từ 7 năm 6 tháng tù đến 8 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 26/6/2024.

Xử phạt bị cáo L từ 2 năm 3 tháng tù đến 2 năm 6 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 26/6/2024.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: tịch thu và tiêu hủy 01 coóng thủy tinh và 01 vỏ phong bì ký hiệu mẫu M1 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, được niêm phong trong phong bì niêm phong ký hiệu T1; 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì ký hiệu M2 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, được niêm phong trong phong bì niêm phong ký hiệu T2 (02 phong bì ký hiệu T1, T2 đều niêm phong số 331/KL-KTHS); 1 chai nhựa màu trắng, trên nắp chai nhựa được đục 2 lỗ; 01 ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 bật lửa ga; 1 sim điện thoại.

Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước 1 điện thoại Samsung Galaxy A02S của bị cáo L, 1 điện thoại di động Vivo của bị cáo N.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 250.000 đồng của bị cáo L.

Về án phí: các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, VKSND huyện Kim Thành, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo Ngô Đức N và Ngô Văn L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 14 giờ ngày 26/6/2024, tại thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương, Ngô Văn L có hành vi bán trái phép 01 túi ma tuý loại Methamphetamine cho Ngô Đức N với giá 250.000 đồng. Hồi 14 giờ 30 phút cùng ngày, tại phòng ngủ nhà N thuộc thôn P, N đã có hành vi cung cấp địa điểm, dụng cụ sử dụng ma túy và ma túy loại Methamphetamine do N mua của L để N, L và Đ T4 sử dụng trái phép chất ma tuý. Khi cả ba đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Tổ công tác thuộc Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế ma tuý Công an huyện K phối hợp với Công an xã K bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

[3] Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi thực hiện là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nên hành vi trên của bị cáo N đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự với tình tiết “đối với 2 người trở lên”. Hành vi của bị cáo L đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của BLHS. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm và có tính chất nghiêm trọng đối với xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Vì vậy, VKSND huyện Kim Thành truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hiện nay tệ nạn ma tuý không những là hiểm họa của toàn cầu và gây ra nhiều tác hại cho xã hội mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, hành vi trên của các bị cáo phải bị xử lý nghiêm và cần thiết cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên tại quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5]. Trong vụ án này, tài liệu điều tra không xác định người bán chất ma tuý cho Ngô Văn L là ai, ở đâu. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không đủ căn cứ để xử lý.

[5.2]. Bị cáo Ngô Đức N khai nguồn gốc số tiền N sử dụng mua ma tuý của L là do Đồng Chí T4 đưa cho N 300.000 đồng bảo đi mua ma tuý về cùng sử dụng, nhưng T4 khai chiều ngày 26/6/2024, T4 đến nhà N chơi, không đưa tiền cho N mua ma túy. Ngoài lời khai của bị cáo N, tài liệu điều tra không đủ căn cứ xác định T4 có hành vi đưa tiền cho N mua ma tuý, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không đặt ra việc xử lý đối với T4.

[5.3]. Khi bị cáo N nhờ anh Nguyễn Đức Trung C1 số tiền 290.000 đồng vào tài khoản của N thì anh T6 không biết N sẽ dùng để chuyển tiền mua ma tuý. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K không đặt ra việc xử lý đối với anh T6.

[5.4]. Ngày 12/9/2024, Công an huyện K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 91/QĐ-XPHC, số 92/QĐ-XPHC và số 93/QĐ-XPHC đối với L, N và T4 về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

[6] Về vật chứng: một số mẫu vật hoàn lại sau giám định, một số công cụ sử dụng ma túy, sim điện thoại của bị cáo N không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; điện thoại di động của bị cáo N và bị cáo L là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước. Số tiền 250.000 đồng là tiền do bị cáo Ngọc B ma túy mà có nên cần tịch thu của bị cáo để sung vào ngân sách nhà nước.

[7] Về án phí: các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Đức N, khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Văn L.

  1. Tuyên bố: bị cáo Ngô Đức N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Ngô Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  2. Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

    Xử phạt bị cáo Ngô Đức N 7 (bẩy) năm 9 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 26/6/2024.

    Xử phạt bị cáo Ngô Văn L 2 (hai) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 26/6/2024.

  3. Về biện pháp tư pháp: áp dụng các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

    Tịch thu và tiêu hủy 01 coóng thủy tinh và 01 vỏ phong bì ký hiệu mẫu M1 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, được niêm phong trong phong bì niêm phong ký hiệu T1; 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì ký hiệu M2 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, được niêm phong trong phong bì niêm phong ký hiệu T2 (02 phong bì ký hiệu T1, T2 đều niêm phong số 331/KL-KTHS); 1 chai nhựa màu trắng, trên nắp chai nhựa được đục 2 lỗ; 01 ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 bật lửa ga; 1 sim điện thoại.

    Tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước 1 điện thoại Samsung Galaxy A02S của bị cáo L, 1 điện thoại di động Vivo của bị cáo N.

    Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 250.000 đồng của bị cáo L (bị cáo L chưa thi hành).

    (Đặc điểm cụ thể của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện K và Chi cục THADS huyện K ngày 11/10/2024)

  4. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    Các bị cáo Ngô Đức N, Ngô Văn L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

    Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND huyện Kim Thành;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an huyện Kim Thành;
  • - Công an huyện Kim Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Kim Thành;
  • - Các bị cáo;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Kim Thành;
  • - Cơ quan THAHS- Công an huyện Kim Thành;
  • - Cơ quan THAHS- Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu: Tòa án, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 80/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng hơn 14 giờ ngày 26/6/2024, tại thôn P2, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương, Ngô Văn L có hành vi bán trái phép 01 túi ma tuý loại Methamphetamine cho Ngô Đức N với giá 250.000 đồng. Hồi 14 giờ 30 phút cùng ngày, tại phòng ngủ nhà N thuộc thôn P2, N đã có hành vi cung cấp địa điểm, dụng cụ sử dụng ma túy và ma túy loại Methamphetamine do N mua của L để N, L và Đồng Chí T sử dụng trái phép chất ma tuý. Khi cả ba đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Tổ công tác thuộc Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế ma tuý Công an huyện Kim Thành phối hợp với Công an xã Kim Đính bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger