Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2023/HNGĐ-ST

Ngày 14-8-2023

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đăng Thành;

2. Ông Lê Quang Xẹt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bồ Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 221/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2023 về việc Tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nhâm Thị Quỳnh N, sinh năm 1999; địa chỉ: Tổ 2, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Đức M, sinh năm 1998; địa chỉ: Tổ 2, ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 5 năm 2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nhâm Thị Quỳnh N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nhâm Thị Quỳnh N và anh Lê Đức M có thời gian tìm hiểu nhau một thời gian ngắn thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương vào năm 2020. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sinh sống tại địa tổ 2, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương cho đến nay. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, thường xuyên xảy ra tranh cãi, mâu thuẫn kéo dài dẫn đến việc chị N không còn tình cảm với anh M. Hai vợ chồng đã sống ly thân khoảng 01 (một) năm nay. Trong quá trình vợ chồng sống ly thân không có sự quan tâm, chăm sóc qua lại. Chị Như xác định không còn tình cảm và không muốn sống chung với anh M nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có một con chung cháu Lê Minh K, sinh ngày 03/10/2020. Hiện con chung đang ở cùng anh M và do anh M nuôi dưỡng. Sau ly hôn, chị N giao con chung cho anh M nuôi dưỡng. Chị N cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về phía bị đơn anh Lê Đức M:

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã giao thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu anh Lê Đức M có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của chị Nhâm Thị Quỳnh N nhưng anh M không có ý kiến. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 03/7/2023 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do; đồng thời cũng không có ý kiến và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:

Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Về hôn nhân, chị Nhâm Thị Quỳnh N và anh Lê Đức M có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống không hạnh phúc do mâu thuẫn kéo dài, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn và yêu cầu giải quyết về con chung là có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về tài sản chung và nợ chung các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập bị đơn làm việc nhưng bị đơn vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 28/7/2023 và ngày 14/8/2023 nhưng vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nhâm Thị Quỳnh N và anh Lê Đức M là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 26, ngày 07/04/2020 nên quan hệ hôn nhân của chị Nhâm Thị Quỳnh N và anh Lê Đức M là hợp pháp.

Chị Nhâm Thị Quỳnh N xác định cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, thường xuyên xảy ra tranh cãi nên dẫn đến việc chị N không còn tình cảm với anh M, hai vợ chồng đã sống ly thân khoảng 01 (một) năm nay. Bản thân anh M sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập đến tham gia phiên hòa giải để hòa giải mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bị đơn không có mặt và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều này chứng tỏ bị đơn không muốn hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Qua đó thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng của chị N đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Nhâm Thị Quỳnh N yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[3] Về con chung: Quá trình chung sống, hai vợ chồng có một con chung cháu Lê Minh K, sinh ngày 03/10/2020. Hiện con chung đang ở cùng anh M và do anh M nuôi dưỡng. Sau ly hôn, chị N giao con cho anh M nuôi dưỡng vì anh M đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu, anh M có chỗ ở ổn định và thu nhập cao hơn chị N. Qua đó thấy rằng việc giao con chung cho anh M nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo cho sự phát triển của con chung nên được chấp nhận.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Nhâm Thị Quỳnh N tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, xét đây là sự tự nguyện của đương sự nên Tòa án ghi nhận.

[4] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật, nên có cơ sở chấp nhận.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Chị Nhâm Thị Quỳnh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nhâm Thị Quỳnh N được ly hôn với anh Lê Đức M (Giấy chứng nhận kết hôn số 26 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 07/04/2020).

2. Về con chung: Chị Nhâm Thị Quỳnh N giao cháu Lê Minh K, sinh ngày 03/10/2020 cho anh Lê Đức M trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nhâm Thị Quỳnh N cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Thời hạn cấp dưỡng kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Sau ly hôn, chị Nhâm Thị Quỳnh N và anh Lê Đức M đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì quyền lợi hợp pháp của con, khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nhâm Thị Quỳnh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí về ly hôn và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007734 ngày 06/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Chị Nhâm Thị Quỳnh N phải nộp thêm số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự (02);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (01);
  • - CCTHADS thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (01);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án (02).

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2023/HNGĐ-ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 80/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lâm Thị Quỳnh N - Lê Đức M tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger