|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 80/2023/HS-ST Ngày: 11-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Hoàng Thiên Phúc – Giáo Viên trường THCS Trần Phú Quận 10
- Bà Võ Thị Kim Nguyên – Giáo viên trường THCS Hoàng Văn Thụ Quận 10
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Thuỳ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Hoàng N; sinh ngày: 27/5/1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 151/53/26 Đường L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Hoàng D và bà: Lê Thị Cẩm H; tiền án: Ngày 22/9/2011, bị Toà án nhân dân Quận 6 xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo Bản án số 139/2011/HSST; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/3/2019, bị Toà án nhân dân quận Tân Phú áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 21 tháng, theo Quyết định số 39/QĐ-TA; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2023 tại Nhà tạm giữ Công an Q.
(Bị cáo có mặt).
- Bị hại: Trẻ Nguyễn Thanh Kim N1, sinh năm 2008 (vắng mặt)
Địa chỉ: A Đường N, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của trẻ N1:
Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Địa chỉ: A Đường N, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ N1:
Ông Nguyễn Văn H1 là Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố H (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 50 ngày 24/3/2023, bị cáo Lê Hoàng N điều khiển xe môtô hiệu Honda Vision mang biển số 59D3-070.06 lưu thông trên đường. Khi đến trước nhà số B đường C, Phường A, Quận A bị cáo N nhìn thấy hai em Nguyễn Thanh Kim N1 (sinh ngày 29/12/2008) và T2 (sinh ngày 19/12/2008) đang đi bộ sang đường, trên tay em N1 cầm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Bị cáo N vòng xe lại chạy ngược chiều áp sát bên trái của em N1, dùng tay trái giật chiếc điện thoại rồi bỏ vào túi quần và tăng ga xe bỏ chạy vào hẻm B đường C. Ngay lúc này, anh Nguyễn Việt N2 là cán bộ Công an P, Quận A đang đi tuần tra phát hiện và đuổi liên tục theo bị cáo N. Khi bị cáo N chạy vòng lại ra đầu hẻm B đường C thì gặp lại em N1 và Mỹ. Em N1 dùng chân đạp xe, bị cáo N né nên tông trúng em M làm cả hai té ngã. Lúc này, anh N2 cùng quần chúng nhân dân bắt giữ được bị cáo N và phương tiện, vật chứng giao Công an P, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xử lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã yêu cầu định giá tài sản, tại Kết luận định giá tài sản số 615/KL-HĐĐGTS ngày 20/4/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận A: “01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 có trị giá là 9.000.000 đồng”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, bị cáo Lê Hoàng N khai nhận hành vi phạm tội như trên. Tại nơi xảy ra vụ việc có camera ghi nhận hình ảnh bị cáo N chiếm đoạt tài sản của em Nguyễn Thanh Kim N1.
Em Thang Thư M1 khai bị bị cáo N điều khiển xe đụng trúng nhưng thương tích không đáng kể nên từ chối giám định tỷ lệ thương tật và không yêu cầu bồi thường về dân sự.
Vật chứng vụ án:
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho em Nguyễn Thanh Kim N1.
- 01 xe môtô hiệu Honda Vision gắn biển số 59D3-070.06, qua giám định xe có số khung, số máy không đổi. Xác minh, xe do chị Nguyễn Thị Bích N3 đứng tên. Ngày 10/01/2023, chị N3 bán xe cho anh Nguyễn Văn T1 và có làm hợp đồng uỷ quyền. Tháng 3/2023, anh T1 bán xe cho chị Nguyễn Thị Phương U. Ngày 22/3/2023, bị cáo Lê Hoàng N mượn xe của chị U để đi chơi và sau đó bị bắt như trên. Việc bị cáo N sử dụng xe làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội chị U không biết, Cơ quan điều tra trả lại xe cho chị U là có cơ sở.
- 01 áo sơ-mi ngắn tay, 01 quần dài vải kaki, 01 áo khoác dài tay màu xanh là các trang phục bị cáo N mặc lúc phạm tội.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã ra Quyết định chuyển các vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.
- 01 USB chứa dữ liệu camera ghi nhận hành vi phạm tội của bị cáo Lê Hoàng N. (lưu cùng hồ sơ vụ án)
Về dân sự: Hai em Nguyễn Thanh Kim N1, Thang Thư M1 và người giám hộ không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Tại Bản Cáo trạng số 66/CT-VKSQ10 ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Bị cáo Lê Hoàng N về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d, g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội, bị hại, người giám hộ của bị hại và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) và tình tiết tăng nặng tái phạm; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Lê Hoàng N từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù; phạt tiền bổ sung đối với bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng và đề nghị xử lý vật chứng.
- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
- Ý kiến của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại:
Thống nhất về tội danh khung hình phạt của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Lê Hoàng N đã có hành vi dùng thủ đoạn nguy hiểm là sử dụng xe môtô có phân khối lớn, lợi dụng sự sơ hở của người khác mà nhanh chóng công khai cướp giật tài sản của bị hại ngay trên đường phố, tại thời điểm bị cáo cướp giật bị hại là người dưới 16 tuổi. Do vậy, bị cáo Lê Hoàng N bị truy tố và xét xử về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, trật tự an toàn giao thông đường bộ. Mặt khác bị cáo
có quá trình nhân thân không tốt. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương. Ngoài ra áp dụng khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bổ sung bị cáo một số tiền nộp ngân sách nhà nước.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án chưa được xoá án tích, nay lại tiếp tục phạm tội nghiêm trọng do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên thiệt hại không lớn. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không có gì để giải quyết.
Đối với 01 áo sơ-mi ngắn tay, 01 quần dài vải kaki, 01 áo khoác dài tay màu xanh là các trang phục bị cáo N mặc lúc phạm tội. Xét thấy đây là trang phục bị cáo mặc lúc phạm tội không liên quan đến vụ án nhưng không có giá trị, bị cáo không đồng ý nhận lại nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu và tiêu huỷ.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào điểm d, g khoản 2, 5 Điều 171; Điều 38; Điều 50; điểm s, h khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng N phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Hoàng N 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2023.
Phạt tiền bổ sung bị cáo Lê Hoàng N 10.000.000 (mười triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.
Tịch thu và tiêu hủy đối với 01 áo sơ-mi ngắn tay, 01 quần dài vải kaki, 01 áo khoác dài tay màu xanh.
(Tình trạng vật chứng Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/7/2023 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).
Buộc bị cáo Lê Hoàng N chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án;
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Quyết |
6
7
Bản án số 80/2023/HS-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (cướp giật tài sản)
- Số bản án: 80/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Hoàng Nam
