Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẾ PHONG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 80/2023/HS - ST

Ngày 11/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán, chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn thảo
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1 - Ông Mong Thái Dương.
  • 2 - Bà Sầm Thị Thanh.
  • - Thư ký phiên toà: Bà Lương Huyền Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
  • - Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong tham gia phiên toà:
  • Bà Lô Thị Giang – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An đã xét xử công khai khai trực tiếp vụ án Hình sự thụ lý số 72/2022/TLST - HS ngày 14 tháng 7 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2023/QĐXXST - HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Đình T - Sinh năm 1981 tại huyện T, tỉnh Nghệ An.

Nơi cư trú: Xóm H, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Đình Đ; con bà: Nguyễn Thị H; Vợ: Hồ Thị A, con: Có 05 người con; lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Năm 2007 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 15 tháng về tội “Không tố giác tội phạm”. Bị cáo đã chấp hành xong bản ản này.
  • + Năm 2018 bị Công an huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính 3.000.000 đồng về hành vi “Vận chuyển lâm sản không có hồ sơ hợp pháp”. Bị cáo đã chấp hành xong quyết định này.

Bị cáo bị bắt tạm giam, tạm giam từ ngày 26/3/2023. Có mặt.

  • + Người chứng kiến: Anh Vi Văn L - Sinh năm: 1986.

Trú tại: Xóm H, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 8 năm 2022, Trần Đình T có quen biết một người đàn ông tên là V trú tại bản H, xã T, huyện Q, biết V có bán ma túy nên T đã lấy số điện thoại của V để khi cần thì liên lạc mua ma túy. Thời gian sau đó, do cần mua ma túy để sử dụng nên Trần Đình T gọi điện thoại cho V để mua túy, quá trình mua ma túy, V đưa them cho T 12 viên nén màu xanh và nói với T là sử dụng để chống ẩm. Vào khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 26/3/2023, T gọi điện thoại cho V nhưng không lên lạc được nên T đi bộ từ nhà lên bản H, xã T, huyện Q để tìm mua ma túy về sử dụng, khi đến khu vực bản M, xã T thì tình cờ gặp được V và T mua với V 01 gói ma túy với số tiền là 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cầm rồi đi về nhà, khi đi đến khu vực xóm T, xã C, huyện Q thì bị tổ công tác Công an xã C, huyện Q phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ là 01 gói ni lông màu xanh, bên trong chứa nhiều viên nén màu hồng (Nghi là ma túy Methamphetamine) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh đã qua sử dụng.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong đã tiến hành việc khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Đình T và thu giữ ở dưới nệm tại gác xép nhà T 01 bao ni lông màu hồng bên trong chứa nhiều viên nén màu xanh cùng các bao ni lông mà T cất dấu trước đó.

Bản kết luận giám định số: 389/KL - KTHS (Đ2 - MT) ngày 03/4/2023 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nghệ An kết luận:

“Mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M1) thu giữ của Trần Đình T gửi đến giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng thu giữ của Trần Đình T có tổng khối lượng là 18,47 gam (Mười tám phẩy bốn mươi bảy gam).

“Mẫu viên nén màu xanh (ký hiệu M2) thu giữ của Trần Đình T gửi đến giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Số viên nén màu xanh thu giữ của Trần Đình T có tổng khối lượng là 1,2 gam (Một phẩy hai gam).

Tổng khối lượng ma túy mà Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong thu giữ của Trần Đình T là 19,67 gam (Mười chín phẩy sáu mươi bảy gam).

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể:

Vào hồi 11 giờ 00 phút, ngày 26/3/2023, Trần Đình T đang có hành vi cất dấu ma túy trái phép thì bị Tổ công tác Công an xã Cắm Muộn, huyện Quế Phong phát hiện bắt quả tang, thu giữ của Trần Đình T 01 gói ma túy Methamohetamine có tổng khối lượng là 18,47 gam. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong đã tiến hành việc khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Đình T và thu giữ thêm 1,2 gam Methamphetamine mà T cất dấu trước đó. Tổng khối lượng ma túy mà Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong thu giữ của Trần Đình T là 19,67 gam (Mười chín phẩy sáu mươi bảy gam). Mục đích của bị cáo tàng trữ ma túy là để sử dụng.

Cáo trạng số 77/CT - VKS - QP, ngày 14/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Trần Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quế Phong tuyên bố bị cáo Trần Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Đình T từ 07 năm tù đến 08 năm tù; đề nghị xử lý vật chứng; miễn phạt tiền bổ sung cho bị cáo; Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trần Đình T không có ý kiến tranh luận hay đối đáp với quan điểm của kiểm sát viên, chỉ xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo cải tạo tốt, sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Phong, của Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2]. Về nội dung vụ án: Vào hồi 11 giờ 00 phút, ngày 26/3/2023, Trần Đình T đang có hành vi cất dấu ma túy trái phép thì bị Tổ công tác Công an xã Châu Thôn, huyện Quế Phong phát hiện bắt quả tang, thu giữ của Trần Đình T 01 gói ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng là 18,47 gam. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong đã tiến hành việc khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Đình T và thu giữ thêm 1,2 gam Methamphetamine mà T cất dấu trước đó. Tổng khối lượng ma túy mà Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong thu giữ của Trần Đình T là 19,67 gam (Mười chín phẩy sáu mươi bảy gam). Mục đích của bị cáo tàng trữ ma túy là để sử dụng. Vì vậy bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mà tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự.
  3. [3]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:

    Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý độc quyền của nhà nước về chất gây nghiện, làm ảnh hưởng đến sức khỏe nòi giống của con người, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hộiBị cáo ý thức được hành vi trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm nhằm thỏa mãn cơn nghiện thấp hèn của bản thân nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy cần xét xử nghiêm và lên một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để bị cáo có điều kiện đi cai nghiện, cải tạo bản thân thành người có ích cho gia đình, xã hội và răn đe, phòng ngừa chung tình trạng tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng trong thời gian gần đây trên địa bàn huyện miền núi, biên giới Quế Phong, Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; bố và mẹ của bị cáo là người có công với nhà nước được tặng thưởng nhiều huân huy chương. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo chính sách khoan hồng và nhân đạo của nhà nước.

    Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

  4. [4]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong đề nghị xử phạt bị cáo Trần Đình T từ 07 năm tù đến 08 năm tù. Đề nghị của đại diện Viện kiểm đối với bị cáo là hợp lý.
  1. [5]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điểu 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn không có tài sản gì giá trị để đảm bảo cho việc thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  2. [6]. Về vật chứng: Vật chứng thu giữ của bị cáo là 19,67 gam (Mười chín phẩy sáu mươi bảy gam) Methamphetamine. Qúa trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Phong đã lấy 1,2 gam đi giám định và đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên Hội đồng xét xử không xem xét. Số ma túy còn lại là 18,47 gam (Mười tám phẩy bốn mươi bảy gam) Methamphetamine, đây là chất nhà nước độc quyền quản lý, cấm lưu hành; các mảnh bao ni lô màu xanh, màu hồng và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu thu giữ của Trần Đình T không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh có số IMEI I: 35271306256884; IMEI 2: 352713076256892 đã qua sử dụng mà Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo Trần Đình T. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là phương tiện bị cáo sử dụng cho hành vi phạm tội nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự

    Đối với người đàn ông tên V có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Trần Đình T (Theo như lời khai của T) do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra xử lý.

  3. [7]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 135; khoản 2 điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

Quyết định:

Tuyên bè bị cáo Trần Đình T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  • - Căn cứ điểm g khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử Phạt bị cáo Trần Đình T - 07 năm tù.

Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 26/3/2023.

  • - Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy một phong bì thư bưu điện được niêm phong nguyên vẹn, bên trong đựng 18,47 gam (Mười tám phẩy bốn mươi bảy gam) Metham phetamine; mảnh bao ni lông màu xanh, màu hồng và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu thu giữ của Trần Đình T.

Tịch thu 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh có số IMEI I: 35271306256884; IMEI 2: 352713076256892 đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Trần Đình T hóa giá nộp ngân sách nhà nước.

Chi tiết được ghi cụ thể trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 02 tháng 8 năm 2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Phong với Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.

  • - Căn cứ vào điều 135; khoản 2 điều 136 của Bộ luật Hình sự; điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Trần Đình T phải chịu trách nhiệm Hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo Trần Đình T có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Quế Phong;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an huyện Quế Phong;
  • - Trại tạm giam; trại giam;
  • - Chi cục THADS huyện Quế Phong;
  • - Sở tư pháp; UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu Văn phòng, THAHS; Hơ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Văn Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2023/HS - ST ngày 11/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 80/2023/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đinh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger