|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————————————— |
|
Bản án số: 80/2024/HS-ST Ngày 11-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
— Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Cúc, bà Hà Thị Thanh Liêm
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Anh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bằng Phi – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 80/2024/TLST-HS ngày 08/05/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST- HS ngày 30/5/2023 đối với bị cáo:
Vì Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 05/03/1988 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi đăng ký thường trú: Bản P, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi ở hiện tại: Tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (Học vấn): 05/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn P, sinh năm 1954 và bà Vì Thị T1, sinh năm 1961; bị cáo không có vợ; có 01 con sinh năm 2013 (hiện ở cùng ông bà nội); tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vì Văn T là đối tượng sử dụng chất ma tuý. Khoảng 9 giờ 45 phút ngày 28/02/2024, T đi từ phòng trọ của mình tại tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La sang khu vực trường Đại học T3 để tìm mua ma tuý sử dụng. Hồi 10 giờ 30 phút ngày 28/02/2024, sau khi mua được ma túy từ một người đàn ông không quen biết ở khu vực đường D thuộc tổ A, phường Q, thành phố S, Vì Văn T2 cất gói ma túy vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi bộ về hướng khu vực bến xe khách S để tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Q, thành phố S phát hiện, bắt quả tang. Quá trình bắt giữ Cơ quan Công an thu giữ vật chứng gồm: 01 gói nilon màu xanh mở ra bên trong có chứa chất cục bột màu trắng.
Ngày 28/02/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng, kết quả cân tịnh: Chất cục bột màu trắng trong gói nilon màu xanh thu giữ của Vì Văn T2 có khối lượng 0,22 gam, lấy 0,09 gam làm mẫu giám định ký hiệu T, còn lại 0,13 gam làm mẫu lưu kho ký hiệu L. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S ra Quyết định trưng cầu giám định số 249/QĐ-ĐTTH đối với số vật chứng nghi là ma túy thu giữ trong vụ án.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Cà Văn M khi bắt quả tang. Tại Kết luận giám định số 600 ngày 29/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận:
“Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy; loại Heroine, có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng mẫu gửi giám định T là 0,09 gam.
Tổng khối lượng ma túy là 0,22 gam loại Heroine, có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.”
Tại bản Cáo trạng số 149/CT- VKS ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Vì Văn T2 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vì Văn T2 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Vì Văn T2 từ 14 (mười bốn) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 28/02/2024.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- - Về vật chứng của vụ án đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, mẫu lưu ký hiệu L = 0,13 gam (được niêm phong trong 01 phong bì công văn có dán giấy niêm phong số 084062 của Công an thành phố S).
Tại phiên tòa bị cáo trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:
Ngày 28/02/2024, Vì Văn T2 đã có hành vi cất giữ trái phép 0,22 gam Heroine trong người với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La.
Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như: bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo tại giai đoạn điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 10 giờ 35 phút ngày 28/02/2024 tại khu vực tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 600 ngày 29/02/2024 của phòng K - Công an tỉnh S...và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên toà không phát sinh thêm tình tiết mới.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hành vi tàng trữ 0,22 gam hê rô in của bị cáo Vì Văn T2 đủ yếu tố cấu thành tội Tàngtrữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo,
[3.1] về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3.4]Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt. Trước lần phạm tội chưa bị xét xử về hành vi phạm tội nào khác và chưa bị xử phạt hành chính, áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: khối lượng ma tuý bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,22 gam, có 1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hìnhcó nhân thân tốt. Do vậy, cần xem xét xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đặc điểm nhân thân của bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, bản thân không có công việc và thu nhập ổn định và không có tài sản gì có giá trị, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về nguồn gốc 0,22 gam Heroine bị thu giữ, bị cáo khai nhận mua của người đàn ông không quen biết vào ngày 28/02/2024 tại khu vực tổ A, phường Q. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố S không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
[6] Về vật chứng của vụ án: Đối với số ma tuý còn lại sau khi trừ trích rút giám định và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, do đó cần tuyên tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Tuyên bố bị cáo Vì Văn T2 phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Vì Văn T2 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 28/02/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; mẫu lưu ký hiệu L = 0,13 gam (được niêm phong trong 01 phong bì công văn có dán giấy niêm phong số 084062 của Công an thành phố S).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/05/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Vì Văn T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 11/6/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Phạm Thị Thanh Nga |
Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 80/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 80 Vì Văn T Tàng trữ trái phép chất ma túy
