Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10/12/2024

“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Nữ Hạnh Dung

Các hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Trung Đoàn và bà Trần Thị Hồng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai An - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Hội - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 368/2024/TLST-HNGĐ ngày 17/10/2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST ngày 15 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2024/QĐST ngày 26 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc B - sinh năm 1989
  2. Nơi ĐKHKTT: khối T, phường H, TP ., tỉnh Nghệ An - Có mặt

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu C - sinh năm 1989
  4. Nơi ĐKHKTT: khối T, phường H, TP ., tỉnh Nghệ An - Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/09/2024, bản tự khai ngày 31/10/2024 và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Ngọc B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Nguyễn Hữu C là vợ chồng, tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 114 do UBND phường H, TP tỉnh Nghệ An cấp ngày 18/10/2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại khối T, phường H, TP ., tỉnh Nghệ An được một thời gian thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Cuộc sống chung của vợ chồng thường xuyên cãi vã gây bất hòa trong gia đình. Nguyên nhân là do tính tình và quan điểm sống của cả hai vợ chồng không còn phù hợp với nhau nữa. Mâu thuẫn của hai vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không cải thiện được. Vợ chồng anh chị hiện đang sống ly thân. Nay, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không cải thiện được. Nay chị B xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể khắc phục được nên yêu cầu Tòa án xử cho chị được ly hôn với anh C để ổn định cuộc sống.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Tường L - sinh ngày 14/02/2012, Nguyễn Hữu Lực D – sinh ngày 27/03/2014 và Nguyễn Tiểu V – sinh ngày 19/03/2024. Ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 cháu và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản: chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bị đơn là anh Nguyễn Hữu C đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Tòa án đã tiến hành tống đạt các Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải... trực tiếp cho anh C nhưng anh C vẫn không có mặt tại Tòa án để giải quyết nên vụ án không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS. Về việc giải quyết vụ án: áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc B được ly hôn với anh Nguyễn Hữu C; về con chung: vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Tường L - sinh ngày 14/02/2012, Nguyễn Hữu Lực D – sinh ngày 27/03/2014 và Nguyễn Tiểu V – sinh ngày 19/03/2024. Các cháu hiện đang sinh sống cùng chị B, cháu L, cháu D có nguyện vọng được ở với mẹ, cháu V còn quá nhỏ nên đề nghị giao cả 03 cháu cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đề nghị tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh C do chị B không yêu cầu; về tài sản: đề nghị HĐXX không xem xét; về án phí: chị B phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về tranh chấp ly hôn. Bị đơn hiện cư trú tại thành phố V nên Tòa án nhân dân thành phố Vinh thụ lý giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, anh Nguyễn Hữu C là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh C.

[2]. Về nội dung: Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc B và anh Nguyễn Hữu C là vợ chồng, kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, TP ., tỉnh Nghệ An ngày 18/10/2011. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị B và anh C là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo lời trình bày của nguyên đơn và kết quả xác minh tại nơi cư trú cho thấy: quá trình chung sống giữa chị B và anh C hạnh phúc được một thời gian, sau đó thì xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng thường xảy ra cãi vã lẫn nhau; hiện nay anh C và chị B đã sống ly thân, không quan tâm chăm sóc gì nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình, quan điểm sống không còn phù hợp. Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng chị B và anh C đã đến mức trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu và cũng không có giải pháp hay thiện chí để đoàn tụ gia đình. Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Hữu C không đến Tòa án để làm việc nên cũng không đề ra được phương án gì để khắc phục tình trạng vợ chồng và chứng tỏ anh C cũng không có thiện chí để hàn gắn tình cảm. Tại phiên tòa, chị B kiên quyết xin ly hôn, chứng tỏ tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị B yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân gia đình nên cần chấp nhận.
  • - Về quan hệ con chung: Qua lời khai của chị B và kết quả xác minh tại chính quyền địa phương cho thấy: Quá trình chung sống chị B và anh C có 03 con chung là Nguyễn Tường L - sinh ngày 14/02/2012, Nguyễn Hữu Lực D – sinh ngày 27/03/2014 và Nguyễn Tiểu V – sinh ngày 19/03/2024. Ly hôn chị B có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba cháu đến khi trưởng thành, anh C không có ý kiến gì. Xét nguyện vọng của chị B là chính đáng; hiện ba cháu đang ở cùng mẹ; cháu V đang còn quá nhỏ (09 tháng tuổi), cháu L và cháu D cũng có nguyện vọng được ở cùng mẹ; anh C không có ý kiến gì về con chung nên cần giao cả 03 cháu cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành để ổn định việc sinh hoạt, học tập của các cháu như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Chị B không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Về quan hệ tài sản chung: chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh C vắng mặt không có ý kiến trình bày về yêu cầu giải quyết quan hệ tài sản chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.
  • - Về án phí: chị B phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 điều 40, Điều 147, khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc B.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Ngọc B được ly hôn với anh Nguyễn Hữu C.
  2. Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị B và anh C có 03 con chung là Nguyễn Tường L - sinh ngày 14/02/2012, Nguyễn Hữu Lực D – sinh ngày 27/03/2014 và Nguyễn Tiểu V – sinh ngày 19/03/2024. Giao cả 03 cháu cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.
  3. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh C do chị B không yêu cầu.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đi lại, thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm.

  4. Về tài sản: Chị B, anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị B đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo biên lai số 0004820 ngày 17/10/2024.
  6. Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ./.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HNGĐ-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - NGHỆ AN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 80/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger