|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 80/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09 - 9 - 2024
“Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Sang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kiều Trang
- Ông Nguyễn Quốc Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Tấn Bửu là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 212/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 147/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D M, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Tổ 03, ấp T H B2, xã L A, thị xã T C, tỉnh A G (có mặt).
- Bị đơn: Anh Huỳnh Trung T, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Số 318/1, Tổ 03, ấp T H B2, xã L A, thị xã T C, tỉnh A G (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02/5/2024, bản tự khai và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị D M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D M và anh Huỳnh Trung T chung sống với nhau vào năm 2015, hôn nhân do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long An, thị xã Tân Châu theo giấy chứng nhận kết hôn số 40/2015 cấp ngày 14/5/2015.
Cuộc sống chung của vợ chồng có hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị D M mâu thuẫn với mẹ chồng và anh T không chung thủy dẫn đến hay xảy ra cải vã, không còn tiếng nói chung và cũng không còn thương yêu, chăm sóc, quan tâm lẫn nhau nên vợ chồng không còn chung sống từ cuối năm 2019 cho đến nay. Chị D M cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Trung T.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị Nguyễn Thị D M và anh Huỳnh Trung T có hai con chung tên: Huỳnh Trung K, sinh ngày 28/3/2015 và Huỳnh Thị S, sinh ngày 15/02/2017. Chị D M đồng ý giao hai con chung cho anh T được tiếp tục nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị D M trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Huỳnh Trung T có đăng ký thường trú tại: Tổ 03, ấp T H B2, xã L A, thị xã T C, tỉnh A G. Tại thời điểm giải quyết vụ án, anh T có mặt tại nơi cư trú nhưng không đến Tòa án giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án không ghi được lời khai nhưng đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định.
Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị D M không có ý kiến.
Phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang:
Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án. Việc chấp hành pháp luật của người tham giam gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Huỳnh Trung T vắng mặt phiên tòa lần thứ hai, do đó căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D M được ly hôn với anh Huỳnh Trung T.
- Về con chung: Giao hai cháu Huỳnh Trung K, sinh ngày 28/3/2015 và Huỳnh Thị S, sinh ngày 15/02/2017 cho anh Huỳnh Trung T được tiếp tục nuôi dưỡng, chị Nguyễn Thị D M không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị D M trình bày không có, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị D M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị D M khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Trung T có đăng ký thường trú tại: ấp T H B2, xã L A, thị xã T C, tỉnh A G nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Huỳnh Trung T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T theo quy định tại Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D M và anh Huỳnh Trung T sống chung có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Long An, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 40/2015 cấp ngày 14/5/2015 là hôn nhân hợp pháp.
Cuộc sống chung của vợ chồng có hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chị D M cho rằng anh T vi phạm nghĩa vụ vợ chồng, không chăm lo và quan tâm đến cuộc sống hạnh phúc gia đình, dẫn đến cuộc sống chung của vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, không có hạnh phúc và vợ chồng không còn chung sống từ đó cho đến nay. Do không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng, đời sống chung của vợ chồng không thể tiếp tục được nữa nên chị Nguyễn Thị D M yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Trung T.
Xét thấy, anh Huỳnh Trung T không có bản tự khai và cũng không đến Tòa án giải quyết vụ án, do đó Tòa án không ghi được lời khai của anh T nhưng theo biên bản ghi lời khai ngày 26/6/2024 thì được biết chị D M và anh T sống chung không có hạnh phúc từ năm 2019 cho đến nay. Mặc dù gia đình hai bên và chị D M với anh T cũng đã nhiều lần có động thái hàn gắn tình cảm vợ chồng để tiếp tục sống chung lại với nhau nhưng không có kết quả. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, tạo điều kiện cho chị D M và anh T đoàn tụ, sống chung lại với nhau nhưng anh T không đến để giải quyết vụ án, điều này cho thấy hôn nhân giữa chị D M và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần cho D M ly hôn với anh T là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Giấy chứng nhận kết hôn số 40/2015 do Uỷ ban nhân dân xã Long An, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang cấp ngày 14/5/2015 cho chị Nguyễn Thị D M và anh Huỳnh Trung T không còn giá trị pháp lý.
[2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị D M và anh Huỳnh Trung T có hai con chung tên: Huỳnh Trung K, sinh ngày 28/3/2015 và Huỳnh Thị S, sinh ngày 15/02/2017. Chị D M đồng ý giao hai con chung cho anh T được tiếp tục nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, kể từ khi chị D M và anh T không còn chung sống với nhau, cháu Huỳnh Trung K và Huỳnh Thị S do anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và lo việc học hành, đã sinh sống ổn định với anh T. Mặc khác, chị D M không thường xuyên sinh sống tại địa phương. Do đó, để đảm bảo về quyền lợi mọi mặt của con, cần tạm giao hai cháu Huỳnh Trung K và Huỳnh Thị S cho anh T được tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của hai cháu và có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị D M trình bày trong thời gian chung sống với anh Huỳnh Trung T không có tạo lập được tài sản chung và không có nợ chung, nhưng do chưa ghi được lời khai của anh T, ngoài lời khai của chị D M không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh chị D M với anh T có tài sản chung và nợ chung hay không. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị D M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
[5] Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa về giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D M.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D M được ly hôn với anh Huỳnh Trung T.
2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Trung K, sinh ngày 28/3/2015 và Huỳnh Thị S, sinh ngày 15/02/2017 cho anh Huỳnh Trung T được tiếp tục nuôi dưỡng. Chị D M không cấp dưỡng nuôi con.
Anh Huỳnh Trung T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở chị Nguyễn Thị D M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008077 ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị D M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Huỳnh Trung T được quyền kháng cáo trong thời hạn trên, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Sang |
Bản án số 80/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 80/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Diễm M
