Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/HS-ST

Ngày: 09/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thảo và ông Trần Thế Dũng
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thi Lan Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như N - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 79/2024/TLST- HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/ QĐXXST - HS ngày 26/7/2024, đối với bị cáo:

  • - Họ và tên: Vi Đức H; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 13/12/1994;
  • Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường T, thành phố T; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cao Lan; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Họ tên bố: Vi Văn T, sinh năm 1965; Họ tên mẹ: Vũ Thị H1, sinh năm 1965; Vợ, con: Chưa có.
  • * Tiền án:
  • - Bản án số 137/2021/HS-ST ngày 29/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/10/2022).
  • * Tiền sự: Không.
  • * Nhân thân:
  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1270/QĐ-XPHC ngày 13/3/2013 của Công an thành phố T về hành vi Cố ý gây thương tích, phạt tiền.
  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 149/QĐ-XPVPHC ngày 11/9/2013 của Phòng CSĐT tội phạm về TTXH Công an tỉnh T về hành vi Gây rối hoặc cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, phạt tiền.
  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 26/QĐ-XPHC ngày 10/02/2015 của Công an thành phố T về hành vi mua số lô, số đề trái phép, phạt tiền.
  • - Bản án số 131/2015/HSST ngày 31/12/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang xử phạt 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính (không ghi số) ngày 15/7/2016 của Công an phường T, thành phố T về hành vi Đánh nhau, phạt tiền.
  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 232/QĐ-XPHC ngày 27/12/2017 của Công an phường T, thành phố T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, phạt tiền.
  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1115/QĐ-XPHC ngày 28/5/2020 của Công an thành phố T về hành vi Gây rối trật tự ở khu dân cư, phạt tiền.
  • * Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt
  • - Người làm chứng:
  • Chị Nguyễn Bích H2, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Thôn A V, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
  • Hiện chị Nguyễn Bích H2 đang bị tạm giam trong một vụ án khác tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có đơn xin xét xử vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 31/01/2024, Vi Đức H, trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố T một mình đi xe taxi từ nhà đến khu vực Quảng trường N thuộc phường T, thành phố T chơi. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, H nảy sinh ý định mua ma túy (Methamphetamine) để sử dụng cùng bạn gái là Nguyễn Bích H2, trú tại thôn A V, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Tại đây, H gặp và hỏi mua được của 01 người đàn ông (không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ) 01 túi nhỏ nilon màu trắng, bên ngoài dán băng dính màu đen, bên trong có 01 ống nhựa màu xanh chứa Methamphetamine với giá 500.000 đồng, kèm theo 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp (gồm 01 chai nhựa màu trắng, trên nắp chai gắn 01 ống thủy tinh và 01 ống nhựa màu đen). H cất giấu gói ma túy vừa mua được và bộ D sử dụng ma túy vào túi áo khoác đang mặc rồi đi xe taxi (không xác định được biển số, người lái xe) đến khu vực gần ngã ba giao nhau giữa đường N với đường L thuộc phường T, thành phố T để đón H2 đến quán ăn đêm thuộc phường Ỷ, thành phố T (HH2 hẹn gặp nhau từ trước, H2 không biết việc H mua và cất giấu ma

túy). Đến Khoảng 02 giờ ngày 01/02/2024, H cùng H2 đi xe taxi đến nhà nghỉ L thuộc tổ dân phố I, phường Ỷ, thành phố T (do anh Lê Hồng T1, trú tại tổ dân phố G, phường M, thành phố T là người quản lý), H đứng ra thuê phòng số 22 để nghỉ. Khi vào phòng, H rủ H2 cùng sử dụng ma túy, H2 đồng ý. H lấy gói ma túy vừa mua được ra đổ hết vào ống thủy tinh trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy và dùng 01 bật lửa ga màu đỏ (mang theo trong người từ trước) hơ nóng chảy ma túy rồi cùng H2 thay nhau sử dụng bằng hình thức đốt hút vào cơ thể đến khi hết thì đi ngủ.

Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi nhận được tố giác của anh Lê Hồng T1, tổ công tác Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã phối hợp với Công an phường Ỷ tiến hành kiểm tra phòng 22, nhà nghỉ L, phát hiện H có hành vi tổ chức cho H2 sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã thu giữ tại vị trí trên giường 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 bật lửa ga màu đỏ để trong 01 hộp bìa màu vàng và lập biên bản vụ việc hồi 07 giờ 55 phút cùng ngày, niêm phong vật chứng theo quy định.

Kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Vi Đức H, Nguyễn Bích H2 đều (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thể.

Ngoài ra, H khai nhận: khoảng 07 giờ ngày 01/02/2024, sau khi ngủ dậy, H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Realmi C11 2021, vỏ màu xanh đăng nhập vào tài khoản Zalo của H (cài đặt sẵn trên điện thoại) nhắn tin đến tài khoản Z có tên “New” của một người theo H khai tên Trần Văn B, sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố P, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang hỏi mua 900.000 đồng ma túy (loại Methamphetamine), hẹn thanh toán tiền sau, B đồng ý. Một lúc sau, Biểu gửi ảnh vị trí cất giấu ma túy tại thành lan can cầu T thuộc thôn A, xã T, huyện Y qua tin nhắn Zalo cho H để H đến lấy nhưng chưa kịp đi lấy thì bị Tổ công tác kiểm tra, phát hiện hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đưa về trụ sở Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T làm việc. Hồi 12 giờ 15 phút cùng ngày, theo sự chỉ dẫn của H, tổ công tác đã đưa H đến khu vực cầu T thuộc xã T, huyện Y, kiểm tra, phát hiện 01 gói nhỏ bọc ngoài cùng bằng lớp nilon màu xanh, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng được dán vào khe thành lan can của cầu và tiến hành thu giữ, niêm phong theo quy định.

Bản Kết luận giám định số 262/KL-KTHS ngày 05/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật gửi giám định (thu giữ tại cầu T) là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,409g (Không phẩy bốn không chín gam).

Vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 0,359 gam Methamphetamine (số còn lại sau khi lấy mẫu giám định) cùng bao gói; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 túi nilon màu trắng, 01 ống nhựa màu xanh, 01 mảnh nilon màu xanh (trên các mép dán mỗi

phong bì đều có chữ ký của Vi Đức H, chữ ký của các thành phần tham gia, có 05 hình dấu của Phòng K - Công an tỉnh T); 01 hộp bìa màu vàng niêm phong, bên trong có 01 chai nhựa gắn ống nhựa, 01 ống thủy tinh và 01 bật lửa ga màu đỏ. Tạm giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realmi C11 2021, vỏ màu xanh, bên trong lắp 02 sim Viettel (đã qua sử dụng).

Ngày 27/6/2024, Cơ quan điều tra đã chuyển 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 0,359 gam Methamphetamine (số còn lại sau khi lấy mẫu giám định) cùng bao gói và điện thoại có lắp 02 sim Viettel trên đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Y cùng tài liệu liên quan (theo Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 139 ngày 24/6/2024 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T) để tiếp tục xác minh, điều tra theo thẩm quyền. Các vật chứng còn lại được chuyển theo hồ sơ chờ xử lý.

Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 80/CT-VKSTP ngày 18 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Vi Đức H về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, theo khoản 1, Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vi Đức H phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

  • - Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1, Điều 255; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vi Đức H từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 01/02/2024.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử.
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) túi ni lông màu trắng, 01 (Một) ống nhựa màu xanh, 01 (Một) mảnh ni lông màu xanh được niêm phong trong 01 (Một) bì giấy dán kín, mặt trước bì ghi “Mẫu vật gồm: 01 túi ni lông màu trắng, 01 ống nhựa màu xanh, 01 mảnh ni lông màu xanh”, mặt sau trên các mép dán có chữ ký của Vi Đức H, thành phần tham gia niêm phong cùng 05 (Năm) hình dấu của Công an phường Ỷ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang;
  • 01 (Một) chai nhựa gắn ống nhựa, 01 (Một) ống thủy tinh, 01 (Một) bật lửa màu đỏ được niêm phong trong 01 (Một) hộp bìa màu vàng có kích thước (28x09x4,8)cm được đóng kín, bên ngoài hộp ghi “Vật chứng thu giữ của Vi Đức H thu giữ ngày 01/02/2024”, tại các mép hộp được dán giấy niêm phong có chữ ký của Vi Đức H, thành phần tham gia niêm phong cùng hình dấu của Công an phường Ỷ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 01/02/2024 của Vi Đức HNguyễn Bích H2, Phòng CSĐT tội phạm về ma túy - Công an tỉnh T đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 16, 17/QĐ-XPHC cùng ngày 06/02/2024, hình thức phạt cảnh cáo đối với H, phạt tiền 1.500.000 đồng đối với H2. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với người đàn ông theo Vi Đức H khai đã bán ma túy cho H vào tối 31/01/2024 tại khu vực Quảng trường N thuộc phường T, thành phố T nhưng không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Lê Hồng T1 (quản lý nhà nghỉ L) là người trực tiếp cho Vi Đức H thuê phòng nghỉ nhưng không biết H thuê phòng để cùng H2 sử dụng trái phép chất ma túy nên không xem xét, xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Nguyễn Bích H2, là người được Vi Đức H thuê phòng và cung cấp ma túy cho để sử dụng. Quá trình điều tra xác định H2 không cùng H bàn bạc, không biết, không góp tiền cùng H mua ma túy nên hành vi của H2 không cấu thành tội phạm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Trần Văn B, theo Vi Đức H khai là người đã bán ma túy cho H ngày 01/02/2024 và dán gói ma túy tại thành lan can cầu T thuộc xã T, huyện Y để H đến lấy, Cơ quan điều tra đã thu giữ được 01 gói ma túy (khối lượng 0,409gam Methamphetamine) tại địa điểm trên theo H mô tả và chỉ dẫn. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã nhiều lần xác minh, triệu tập để làm việc nhưng Biểu không có mặt tại địa phương. Ngày 24/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 139, chuyển tài liệu và vật chứng có liên quan đến hành vi trên đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Y để tiếp tục điều tra, xác minh theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ngoài ra, kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có tính vụ lợi và bị cáo không có tài sản có giá trị; tuyên quyền kháng cáo và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; Bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.

Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh qua biên bản bắt quả tang, lời khai của người làm chứng; kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng hơn 02 giờ ngày 01/02/2024, tại phòng 22, nhà nghỉ L thuộc tổ dân phố I, phường Ỷ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Vi Đức H, trú tại tổ dân phố I, phường Ỷ, thành phố T đã có hành vi tổ chức cho Nguyễn Bích H2, trú tại thôn A V, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang sử dụng trái phép chất ma túy.

[3] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh phòng, chống tội phạm và bài trừ tệ nạn ma tuý trên địa bàn thành phố T. Bị cáo là người đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo hiều và biết rõ hành vi cung cấp trái phép chất ma túy cho người khác sử dụng của mình là trái pháp luật, biết việc sử dụng ma túy là có hại cho sức khỏe, ảnh hưởng đến kinh tế, hanh phúc gia đình nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện thể hiện ý thức của bị cáo coi thường pháp luật. Do đó cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo đủ thời gian nhận thức được hành vi phạm tội của mình, tu dưỡng rèn luyện bản thân, sống có ích cho gia đình xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm”, quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có tính vụ lợi và bị cáo không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung.

[7] Về mức án mà Viện kiểm sát đề nghị, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 01/02/2024 của Vi Đức HNguyễn Bích H2, Phòng CSĐT tội phạm về ma túy - Công an tỉnh T đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 16, 17/QĐ-XPHC cùng ngày 06/02/2024, hình thức phạt cảnh cáo đối với H, phạt tiền 1.500.000 đồng đối với H2 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với người đàn ông theo Vi Đức H khai đã bán ma túy cho H vào tối 31/01/2024 tại khu vực Quảng trường N thuộc phường T, thành phố T nhưng không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Lê Hồng T1 (quản lý nhà nghỉ L) là người trực tiếp cho Vi Đức H thuê phòng nghỉ nhưng không biết H thuê phòng để cùng H2 sử dụng trái phép chất ma túy nên không xem xét, xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Nguyễn Bích H2, là người được Vi Đức H thuê phòng và cung cấp ma túy cho để sử dụng. Quá trình điều tra xác định H2 không cùng H bàn bạc, không biết, không góp tiền cùng H mua ma túy nên hành vi của H2 không cấu thành tội phạm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Trần Văn B, theo Vi Đức H khai là người đã bán ma túy cho H ngày 01/02/2024 và dán gói ma túy tại thành lan can cầu T thuộc xã T, huyện Y để H đến lấy, Cơ quan điều tra đã thu giữ được 01 gói ma túy (khối lượng 0,409gam Methamphetamine) tại địa điểm trên theo H mô tả và chỉ dẫn. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã nhiều lần xác minh, triệu tập để làm việc nhưng Biểu không có mặt tại địa phương. Ngày 24/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 139, chuyển tài liệu và vật chứng có liên quan đến hành vi trên đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Y để tiếp tục điều tra, xác minh theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) túi ni lông màu trắng, 01 (Một) ống nhựa màu xanh, 01 (Một) mảnh ni lông màu xanh được niêm phong trong 01 (Một) bì giấy dán kín, mặt trước bì ghi “Mẫu vật gồm: 01 túi ni lông màu trắng, 01 ống nhựa màu xanh, 01 mảnh ni lông màu xanh”, mặt sau trên các mép dán có chữ ký của Vi Đức H, thành phần tham gia niêm phong cùng 05 (Năm) hình dấu của Công an phường Ỷ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; 01 (Một) chai nhựa gắn ống nhựa, 01 (Một) ống thủy tinh, 01 (Một) bật lửa màu đỏ được niêm phong trong 01 (Một) hộp bìa màu vàng có kích thước (28x09x4,8)cm được đóng kín, bên ngoài hộp ghi “Vật chứng thu giữ của Vi Đức H thu giữ ngày 01/02/2024”, tại các mép hộp được dán giấy niêm phong có chữ ký của Vi Đức H, thành phần tham gia niêm phong cùng hình dấu của Công an phường Ỷ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
  • [9] Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • [10] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: khoản 1, Điều 255; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Vi Đức H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Vi Đức H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm gữi, tạm giam ngày 01/02/2024.

2. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) túi ni lông màu trắng, 01 (Một) ống nhựa màu xanh, 01 (Một) mảnh ni lông màu xanh được niêm phong trong 01 (Một) bì giấy dán kín, mặt trước bì ghi “Mẫu vật gồm: 01 túi ni lông màu trắng, 01 ống nhựa màu xanh, 01 mảnh ni lông màu xanh”, mặt sau trên các mép dán có chữ ký của Vi Đức H, thành phần tham gia niêm phong cùng 05 (Năm) hình dấu của Công an phường Ỷ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; 01 (Một) chai nhựa gắn ống nhựa, 01 (Một) ống thủy tinh, 01 (Một) bật lửa màu đỏ được niêm phong trong 01 (Một) hộp bìa màu vàng có kích thước (28x09x4,8)cm được đóng kín, bên ngoài hộp ghi “Vật chứng thu giữ của Vi Đức H thu giữ ngày 01/02/2024”, tại các mép hộp được dán giấy niêm phong có chữ ký của Vi Đức H, thành phần tham gia niêm phong cùng hình dấu của Công an phường Ỷ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
  • (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 07/8/2024)

3. Căn cứ các Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  • - Bị cáo Vi Đức H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Bị cáo Vi Đức H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh TQ;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKS ND thành phố;
  • - Công an thành phố;
  • - Chi cục THADS thành phố;
  • - Sở Tư pháp TQ;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án hình sự
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Tuyên Quang; ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Ngọc Lan

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lê Thị Thảo

Trần Thế Dũng

Nguyễn Thị Ngọc Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 80/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xx
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger