Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2023/DS-PT

Ngày 05 tháng 12 năm 2023

“V/v: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Bích Lượt.

Các Thẩm phán:

  • - Ông Phạm Văn Toàn;
  • - Ông Hoàng Tiến Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 52/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2023/DS-ST ngày 18/7/2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 72/2023/QĐ-PT ngày 03/11/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trần Chung K, sinh năm 1993

Địa chỉ: Số nhà H, tổ B, phố V, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Bà Dương Thị Hồng N, sinh năm 1971

Địa chỉ: Số nhà A, tổ A, khu B, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Lỗ Thị Thu H, sinh năm 1987

Địa chỉ: Số nhà E, ngõ A, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Công ty L

Địa chỉ: Số nhà A, đường H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Thanh H1 – Chức vụ: Giám đốc.

(Anh K, bà H có đơn xin xét xử vắng mặt; bà N, bà H1 vắng mặt)

Người kháng cáo: Anh Trần Chung K – Là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 06/9/2022, các tài liệu bổ sung, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Qua giới thiệu của Công ty L, ngày 08/7/2022, tại trụ sở Văn phòng C, tỉnh Phú Thọ, bà N đã đề nghị anh làm đại diện theo ủy quyền để giải quyết vụ án dân sự phúc thẩm mà bà N là bị đơn có kháng cáo, hai bên có ký kết Hợp đồng ủy quyền được công chứng tại Phòng C1. Đến ngày 25/8/2022 bà N đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền với anh và ủy quyền cho người khác thay anh. Kể từ khi ký hợp đồng cho đến thời điểm hiện tại, bà N không thanh toán bất kỳ khoản thù lao nào cho anh. Từ ngày 01/9/2022 anh đã gọi điện nhắn tin liên lạc nhiều lần nhưng bà N trốn tránh, không trao đổi với anh. Do vậy, anh khởi kiện yêu cầu bà N thanh toán tiền thù lao cho anh và các chi phí khác cho anh, cụ thể theo mức độ công việc thực tế anh đã thực hiện kể từ ngày 08/7/2022 đến ngày 25/8/2022 như sau:

  • Thời gian nghiên cứu hồ sơ 15 giờ: 15 x 300.000 đồng = 4.500.000 đồng.
  • Thời gian tư vấn đường lối giải quyết vụ việc thực tế 04 giờ: 04 x 500.000 đồng = 2.000.000 đồng.
  • Lệ phí xác minh biến động đất đai tại UBND thành phố V: 220.000 đồng.
  • Nghiên cứu tài liệu, xây dựng đơn đề nghị định giá lại tài sản: 2.000.000 đồng.
  • Nghiên cứu tài liệu, xây dựng đơn đề nghị xác minh thu thập tài liệu chứng cứ là: 2.000.000 đồng.
  • Thời gian đi làm thực tế tại UBND thành phố V, tham gia định giá tài sản 10 giờ làm việc là 2.000.000 đồng.
  • Chi phí đi lại, tiền điện thoại, phô tô một số tài liệu trong quá trình làm việc: 2.000.000 đồng.

Do bà N đơn phương chấm dứt hợp đồng nên anh đề nghị bà N phải thanh toán chi phí khác khi vụ án được Tòa án cấp phúc thẩm tuyên thay đổi so với bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho bà N là: 5.000.000 đồng.

Tổng cộng anh yêu cầu bà N thanh toán cho anh số tiền 19.720.000₫ (Mười chín triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng).

Đại diện bị đơn bà H trình bày:

Bà thừa nhận việc bà N có ký Hợp đồng ủy quyền với anh K ngày 08/7/2022 theo nội dung anh K trình bày có công chứng tại Phòng công chứng N. Sau khi ký hợp đồng ủy quyền anh K trao đổi với bà N là không có thù lao và hai bên không có văn bản thỏa thuận nào về thù lao, sau đó anh K lại đề nghị tính phí, nên ngày 25/7/2022 bà N đã nhắn tin cho anh K về việc chấm dứt hợp

2

đồng ủy quyền, để bà N ủy quyền cho cậu ruột là ông Phạm Văn B đại diện tham gia xét xử tại Tòa án cấp phúc thẩm. Nay, anh K yêu cầu bà N thanh toán tiền thù lao số tiền 19.720.000 đồng, quan điểm bà đại diện bà N chỉ đồng ý thanh toán các chi phí hợp lý, có biên lai, hóa đơn chứng từ phù hợp, cụ thể bà đại diện bà N chỉ chấp nhận trả cho nguyên đơn chi phí thẩm định tại UBND thành phố V số tiền 210.000 đồng và số tiền 780.000 đồng Phiếu thu của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để photo hồ sơ, còn lại bà không đồng ý với khoản chi phí nào khác.

Đại diện người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty L trình bày:

Ngày 08/7/2022, Công ty nhận được yêu cầu cung cấp dịch vụ pháp lý của bà Dương Thị Hồng N, sau khi trao đổi 02 bên đã ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý số 21/2022 ngày 08/7/2022, nội dung: Bà N đang là bị đơn trong vụ án dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất với nguyên đơn là bà Hà Thị T, đang có kháng cáo, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã có Quyết định xét xử số: 40/2022/QĐXX-PT, bà N và Công ty T2 cung cấp dịch vụ pháp lý trong đó có: Cử người đại diện ủy quyền thay mặt bà N tham gia làm việc tại các cơ quan nhà nước, cá nhân, tổ chức có liên quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà N; Cử Luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà N tại phiên tòa phúc thẩm. Tháng 6/2022, anh K đang tiếp cận công việc tại Công ty. Công ty sau khi xem xét được sự đồng thuận của bà N đã giao hồ sơ của bà N sang cho anh K, nghiên cứu đồng thời liên hệ với Phòng C1 để làm thủ tục ủy quyền để anh K, thay bà N liên hệ với cơ quan Nhà nước giải quyết vụ việc. Tuy nhiên ngay sau đó, do không thống nhất được phương án làm việc, anh K không tiếp tục làm việc tại công ty, công ty đã yêu cầu anh K bàn giao hồ sơ của bà N, đồng thời đề xuất chi trả chi phí hỗ trợ cho anh K trong quá trình nghiên cứu hồ sơ và tham gia việc giải quyết vụ việc của bà N, nhưng anh K không đồng ý. Mặt khác công ty đã trao đổi trực tiếp với bà N phương án làm việc thực hiện hủy ủy quyền với anh K tại Tòa án. Đến ngày 25/8/2022, bà N đã thực hiện thay đổi người đại diện ủy quyền sang ông Phạm Văn B, sinh năm 1957 đồng hành cùng Luật sư của Công ty tham gia phiên tòa bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của bà N tại Tòa.

Người làm chứng ông Phạm Văn B trình bày:

Khoảng tháng 7, ông không nhớ ngày ông có đi cùng bà N đến Công ty Luật Anh M và gặp anh K ở đó và đến khoảng cuối tháng 7, đầu tháng 8/2022 ông không nhớ ngày anh cùng ông Dương Quý T1 đi từ cổng Viện mắt đến quán T3 trên đường N, thuộc phường N, thành phố V để đón anh K vào uống cà phê, khoảng 10 giờ thì anh K đi ô tô đến và cùng vào quán, cả 02 lần gặp trên ông không thấy bà N hứa thù lao cho anh K.

Người làm chứng ông Dương Quý T1 trình bày:

3

Khoảng cuối tháng 7, đầu tháng 8/2022 ông không nhớ ngày ông cùng ông Phạm Văn B đi từ cổng Viện mắt đến quán T3 trên đường N, thuộc phường N, thành phố V để đón anh K vào uống cà phê, khoảng 10 giờ thì anh K đi ô tô đến và cùng vào quán, ông không thấy bà N hứa thù lao cho anh K.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2023/DS-ST ngày 18/7/2023, Tòa án nhân dân (TAND) thành phố V đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 117, Điều 562 và Điều 569 Bộ luật Dân sự; Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Trần Trung K1.

Buộc bà Dương Thị Hồng N phải thanh toán cho anh Trần Chung K số tiền 990.000₫ (Chín trăm chín mươi nghìn đồng), trong đó: 210.000 đồng chi phí thẩm định tại UBND thành phố V và 780.000 đồng tiền photo hồ sơ tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Ngoài ra bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, quyền yêu cầu thi hành án và các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Ngày 27/7/2023, anh Trần Trung K1 kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm đề nghị hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2023/DS-ST ngày 18/7/2023, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì vì vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Các lý do anh K1 đề nghị hủy bản án:

  • Hội đồng xét xử chưa xác minh giải quyết triệt để yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy tư cách đại diện theo ủy quyền của bị đơn.
  • Việc nhận định, giải quyết của của HĐXX chưa đầy đủ, khách quan.

Tại phiên tòa phúc thẩm, anh K1 có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của anh Trần Trung K1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 12/2023/DS-ST ngày 18/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì.

(Chi tiết tại bài phát biểu của Kiểm sát viên lưu hồ sơ vụ án)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của anh Trần Trung K1 là nguyên đơn trong hạn luật định, đơn hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Nội dung kháng cáo trong

4

phạm vi xét xử bản án sơ thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét đơn kháng cáo theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung kháng cáo anh Trần Trung K1 đề nghị hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2023/DS-ST ngày 18/7/2023, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì vì vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng:

Thứ nhất: Thẩm phán và Hội đồng xét xử chưa xác minh giải quyết triệt để yêu cầu của nguyên đơn về việc đề nghị hủy tư cách đại diện theo ủy quyền đối với đại diện theo ủy quyền của bị đơn. Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì đã đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xác định và đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty luật trách nhiệm hữu hạn Anh M vào vụ việc để giải quyết nhưng lại xác định không liên quan đến việc ký hợp đồng ủy quyền giữa nguyên đơn và bị đơn để xác định hoạt động đại diện theo ủy quyền của bà Lỗ Thị Thu H cho bị đơn (Tại hợp đồng dịch vụ pháp lý công ty luật Anh M ký với bị đơn thì chính bà H là người đại diện cho công ty K2 hợp đồng, trong đó có quy định rõ nghĩa của công ty có nội dung “Cử đại diện ủy quyền thay mặt bên B tham gia làm việc với các cơ quan Nhà nước, cá nhân, tổ chức có liên quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên B”). Và đối chiếu với các lời khai của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Nay bà N bị khởi kiện yêu cầu thanh toán thù lao ủy quyền và bồi thường, theo hợp đồng dịch vụ pháp lý công ty luật Anh M phải có nghĩa vụ thanh toán chi phí theo ủy quyền này thay cho bà N, thể hiện công ty L1 M vi phạm nghĩa vụ với bà N, đủ căn cứ xác định giữa Bị đơn và công ty L trong vụ án này có quyền, lợi ích đối lập. Tuy nhiên toàn bộ quá trình trước, trong khi xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử không xác định được hoạt động ủy quyền này đã vi phạm Điều 87 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Để dẫn đến quá trình giải quyết bà H là đại điện cho bị đơn đã khai báo, trình bày không khách quan, không trung thực. Hội đồng xét xử làm việc chưa công tâm, khách quan.

Do lời khai của nguyên đơn và bị đơn cùng những người làm chứng có mâu thuẫn nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án cho nguyên đơn đối chất với bị đơn và những người làm chứng nhưng Hội đồng xét xử không thực hiện, chỉ dựa vào lời khai một chiều của bị đơn và những người làm chứng để nhận định, đánh giá và tiếp tục xét xử dựa theo lời khai của bị đơn và những người làm chứng.

Việc bị đơn và người làm chứng không có mặt để thực hiện đối chất thể hiện dấu hiệu trốn tránh, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của đương sự trong vụ án tuy nhiên Hội đồng xét xử lại không nhận định trong bản án. Mặt khác Hội đồng xét xử lại nhận định việc bị đơn và những người làm chứng không có mặt theo giấy mời của Tòa án để thực hiện đối chất thì Hội đồng xét xử không

5

thể ép buộc các đương sự đến tòa, nguyên đơn không chấp nhận yêu cầu Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để thực hiện đối chất đảm bảo công bằng, khách quan cho nguyên đơn thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử là vi phạm nghiêm trọng quy định tại các Điều 70, 72, 77 và Điều 100 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Đối với yêu cầu của anh K1 về việc xem xét hủy tư cách đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Lỗ Thị Thu H vì cho rằng quyền lợi của bà N và Công ty L là đối lập, còn bà H lại là Phó Giám đốc Công ty L nên không thể là người đại diện theo ủy quyền: Xét thấy vụ án này là vụ án tranh chấp Hợp đồng dịch vụ giữa anh K1 và bà N, anh K1 khởi kiện yêu cầu bà N thanh toán tiền dịch vụ dựa trên Hợp đồng ủy quyền ngày 08/7/2022 giữa bà N và anh K1, nội dung hợp đồng không liên quan đến Công ty L và bà H đại diện bà N với tư cách cá nhân nhận sự ủy quyền của bà N, vì vậy không thể lập luận là có sự đối kháng về quyền lợi. Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết buộc bị đơn là bà N phải bồi thường cho nguyên đơn các khoản liên quan đến hợp đồng ủy quyền giữa nguyên đơn với bị đơn. Nên trong phạm vi yêu cầu khởi kiện Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết yêu cầu của nguyên đơn mà không hủy tư cách đại diện theo ủy quyền của bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

Đơn kháng cáo anh K1 trình bày: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm không thực hiện đối chất giữa nguyên đơn với bị đơn và những người làm chứng là vi phạm nghiêm trọng quy định tại các Điều 70, 72, 77 và Điều 100 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Đối với yêu cầu tiến hành đối chất của nguyên đơn với bị đơn là bà N và người làm chứng: Hồ sơ vụ án thể hiện ông B, ông T1 và bà N trình bày hoàn toàn trùng khớp nội dung, không mâu thuẫn nên không cần đối chất. Từ những nhận định trên thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm không vi phạm thủ tục tố tụng, nên không có căn cứ hủy bản án của Tòa án cấp sơ thẩm, đồng nghĩa với nội dung kháng cáo trên của anh K1 không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Nội dung thứ hai anh K1 kháng cáo: Việc nhận định, giải quyết của Hội đồng xét xử là chưa đầy đủ, khách quan:

Tại phần nhận định và quyết định của hội đồng xét xử buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền 990.000 đồng bao gồm 780.000 đồng là chi phí photo tài liệu và 210.000 đồng là phí thu thập tài liệu tại Ủy ban nhân dân thành phố là bỏ sót, chưa đầy đủ khách quan vì căn cứ theo Điều 569 Bộ luật Dân sự 2015 thì chi phí hợp lý ở đây cần xác định là cả chi phí đi lại, soạn thảo văn bản tài liệu mà nguyên đơn đã thực hiện công việc cho bị đơn (có tài liệu chứng cứ thể hiện đầy đủ). Hội đồng xét xử nhận định và quyết định như vậy là

6

chưa đầy đủ, khách quan, vi phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án xác định giữa bà N và Công ty L có kí hợp đồng dịch vụ pháp lý. Nội dung hợp đồng dịch vụ pháp lý bao gồm: nghiên cứu hồ sơ, soạn thảo các văn bản gửi đến các cơ quan, tổ chức có liên quan, cử đại diện theo uỷ quyền và cử luật sư tham gia tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án, Công ty L đã có bản tự khai thể hiện tại thời điểm kí hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa bà N và Công ty L thì anh K1 đến xin làm việc tại Công ty nhưng hai bên chưa thống nhất được về hợp đồng lao động. Trên cơ sở thoả thuận giữa các bên và sự đồng ý của khách hàng thì Công ty đã giao hồ sơ của bà N cho anh K1 nghiên cứu. Sau đó, giữa bà N và anh K1 thực hiện kí kết hợp đồng uỷ quyền tại văn phòng C.

Tại Điều 6 về Thù lao ủy quyền trong Hợp đồng ủy quyền có thỏa thuận:

“Thù lao ủy quyền này được các bên thỏa thuận ở một văn bản khác ngoài sự chứng kiến của Công chứng viên”

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đều không cung cấp được tài liệu, chứng cứ thỏa thuận về thù lao ủy quyền, không có tài liệu nào thể hiện giữa hai bên có thoả thuận riêng về thù lao, do vậy xác định hợp đồng uỷ quyền giữa anh K1 và bà N là hợp đồng uỷ quyền không có thù lao. Cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền 990.000 đồng bao gồm 780.000 đồng là chi phí photo tài liệu và 210.000 đồng là phí thu thập tài liệu tại Ủy ban nhân dân thành phố V là phù hợp với pháp luật, nên nội kháng cáo thứ hai của nguyên đơn không có căn cứ nên không được chấp nhận.

[3] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận nên anh K1 phải chịu án phí phúc thẩm.

Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của anh Trần Trung K1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2023/DS-ST ngày 18/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Căn cứ vào các Điều 117, Điều 562 và Điều 569 Bộ luật Dân sự; Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Xử:

7

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Trần Trung K1.

Buộc bà Dương Thị Hồng N phải thanh toán cho anh Trần Chung K số tiền 990.000₫ (Chín trăm chín mươi nghìn đồng), trong đó: 210.000 đồng chi phí thẩm định tại UBND thành phố V và 780.000 đồng tiền photo hồ sơ tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

  1. Không chấp nhận phần yêu cầu còn lại của anh Trần Chung K về việc yêu cầu bà Dương Thị Hồng N phải trả số tiền thù lao là 18.730.000₫ (Mười tám triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng).
  1. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 26, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
  • - Án phí sơ thẩm: Anh Trần Chung K phải chịu 936.500₫ (Chín trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 490.000₫ (Bốn trăm chín mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0009523 ngày 29/9/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Anh K còn phải nộp số tiền 446.500đ (Bốn trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  • Bà Dương Thị Hồng N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Án phí phúc thẩm: Anh Trần Chung K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận anh K đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0000487 ngày 01/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

8

nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS TP. Việt Trì;
  • - TAND TP. Việt Trì;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Điêu Thị Bích Lượt

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2023/DS-PT ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 80/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Chung K - Dương Thị Hồng N - Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger