Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH TƯỜNG

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/HS-ST

Ngày: 05- 8- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG - TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phùng Văn Thông

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Hương

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Đặng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2024/TLST - HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Trần Văn T, sinh ngày 10/4/1989; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1, sinh năm 1951 và bà Vũ Thị T2, sinh năm 1951; có vợ là Văn Thị H (đã ly hôn) và có 02 con; Tiền án: Không; tiền sự: 01, cụ thể: Tại quyết định số 891/QĐ-UBND ngày 03/12/2021, Chủ tịch UBND xã Đ quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với T với thời hạn 03 tháng. Ngày 03/3/2022, T đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã.

- Nhân thân: Tại bản án số 05/HSST ngày 18/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, xử phạt T 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 11/11/2014, T chấp hành xong hình phạt tù và toàn bộ bản án.

1

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/12/2023 đến ngày 04/01/2024 chuyển tạm giam đến nay có mặt tại phiên tòa.

2. Tạ Văn H1, sinh ngày 17/12/1982; nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn C, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1962; có vợ là Trần Thị H2 (đã ly hôn) và có 01 con; Tiền án: Không;

- Tiền sự: Tại Quyết định số 107/QĐ-VPHC ngày 30/3/2023 của Công an huyện V phạt tiền 3.500.000đ đối với H1 về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (ma tuý Heroine có khối lượng 0,0231g). Ngày 04/4/2023, H1 nộp phạt xong.

- Nhân thân:

+ Tại bản án số 26/HSST ngày 28/02/2020 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, xử phạt H1 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 16/12/2020, H1 chấp hành xong hình phạt tù và toàn bộ bản án.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/12/2023 đến ngày 04/01/2024 chuyển tạm giam đến nay có mặt tại phiên tòa.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Bùi Văn N, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
  • - Anh Đỗ Văn Đ, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn Y, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
  • - Ông Bùi Quốc C1, sinh năm 1968; Địa chỉ: TDP B Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
  • - Ông Trần Văn N1, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

Người làm chứng:

  • - Anh Trần Ngọc Q (vắng mặt).
  • - Anh Chu Văn Đ1 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

2

Khoảng 07 giờ ngày 26/12/2023, Trần Văn T đang ở nhà thì nhận được điện thoại từ số thuê bao 0796.054.395 của Tạ Văn H1 gọi đến số thuê bao 0868.668.119 của T, qua điện thoại H1 hỏi T “Đi chưa”. T hiểu ý của H1 là hỏi T đi lên Cơ sở điều trị M1 ở thị trấn T, huyện V chưa nên nói lại “Cứ lên M đi” thì H1 tiếp tục nói “Có một trăm nghìn cho chung với”. T hiểu ý của H1 là muốn góp 100.000đ với T để mua 01 gói ma túy heroine với giá 200.000đ về cùng nhau sử dụng nên trả lời “Oke”. Sau đó, T một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS): 21T6-5062 đi từ nhà đến Cơ sở điều trị Methadone V (T không có tên trong danh sách bệnh nhân đang điều trị thuốc dạng thay thế cho thuốc phiện tại cơ sở M1) mục đích để cùng H1 góp tiền mua ma túy về cùng sử dụng và để xem ai có nhu cầu mua ma túy thì T sẽ đi mua về bán kiếm lời. Đến nơi, T dựng xe ở trước cổng thì thấy có nhiều người đang ngồi trong lán để xe của Cơ sở điều trị Methadone V, trong đó có Chu Văn Đ1, Bùi Văn N, Bùi Quốc C1Đỗ Văn Đ. Khi thấy T, Bùi Văn N đi đến gặp và đưa cho T số tiền 250.000đ để hỏi mua của T 01 gói ma túy heroine. T đồng ý và cầm tiền N đưa. Một lúc sau, H1 đi bộ một mình đến Cơ sở điều trị Methadone V gặp T và đưa cho T số tiền 100.000đ để góp tiền cùng T mua ma túy heroine về sử dụng như đã thoả thuận qua điện thoại. T cầm tiền H1 đưa, rồi một mình điều khiển xe mô tô đến nhà Phùng Thị H3, sinh năm 1971 ở TDP N, thị trấn T, huyện V (theo lời khai của T). Tại đây, T mua được của H3 03 gói ma túy Heroine với giá 200.000đ/1 gói gồm: 01 gói Trường mua để bán cho N, 01 gói T mua để sử dụng chung với H1 và 01 gói Trường mua để bản thân sử dụng khi có nhu cầu. Sau khi mua được ma túy, Trường quay lại Cơ sở điều trị Methadone V, khi đi đến gần lối rẽ vào Cơ sở điều trị M thì T gặp N đang đứng ở ven đường nên T đi đến đưa cho N 01 gói ma túy Heroine mà N hỏi mua của T trước đó. N cầm gói ma túy T đưa rồi đi đến khu vực vắng người và đã sử dụng hết số ma túy này. Sau khi đưa ma túy cho N thì T tiếp tục điều khiển xe mô tô BKS 21T6-5062 đi đến Cơ sở điều trị M1 để đón H1. Đến nơi, T dừng xe ở cổng Cơ sở điều trị Methadone V thì thấy H1 đi từ trong Cơ sở điều trị M ra và ngồi lên xe mô tô của T rồi T điều khiển xe mô tô chở H1 đi tìm nơi để sử dụng ma túy. Khi TH1 đi đến vị trí cách cổng Cơ sở điều trị Methadone V khoảng hơn 20m về hướng chợ tạm thị trấn T, thuộc địa phận tổ dân phố N, thị trấn T thì bị lực lượng Công an huyện V đang làm nhiệm vụ, kiểm tra, phát hiện bắt quả tang TH1 đang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - T3 tại tay trái T đang cầm 02 gói nhỏ đều bọc bên ngoài bằng nilon màu trắng, mở ra kiểm tra bên trong đều chứa chất bột, cục M2, T khai nhận đó là 02 gói ma túy heroine của T vừa mua được, trong đó có 01 gói là của H1T góp tiền để mua về cùng nhau sử dụng, tang vật được niêm phong vào 01 phong bì

3

thư theo quy định pháp luật, ký hiệu A1; 01 gói ma túy còn lại là của T mua về với mục đích sử dụng riêng cho bản thân, tang vật được niêm phong vào 01 phong bì thư theo quy định pháp luật, ký hiệu A2.

  • - Thu trong túi áo khoác ngực bên trái T đang mặc số tiền 69.000₫ gồm 01 tờ tiền mệnh giá 50.000đ, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ, 04 tờ tiền mệnh giá 2.000đ, 01 tờ tiền mệnh giá 1.000₫.
  • - T3 trong túi quần bên trái phía trước T đang mặc 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0868.668.119 (nắp lưng điện thoại bị vỡ).
  • - Tạm giữ của T 01 xe mô tô nhãn hiệu WANA loại xe nữ màu xanh đã cũ gắn BKS: 21T6-5062.
  • - T3 trong túi áo khoác bên trái phía trước H1 đang mặc 02 bơm tiêm loại 3ml/cc, 01 lọ nước cất nhãn hiệu Novocain 3% đều còn mới, chưa qua sử dụng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0796.054.395.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình khám xét không phát hiện thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 26/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu số 709, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V tiến hành giám định để xác định khối lượng và loại ma túy trong mẫu vật ký hiệu A1, A2 thu giữ của Trần Văn T như đã nêu trên.

Tại bản kết luận giám định số 3557/KLGĐ-KTHS ngày 30/12/2023 của Phòng K - Công an tỉnh V, kết luận:

Chất bột dạng cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1688 gam (Không phảy một sáu tám tám gam, không kể bao bì) loại Heroine (H).

Chất bột dạng cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1445 gam (Không phảy một bốn bốn năm gam, không kể bao bì) loại Heroine (H).

Heroine (H4) có tên khoa học là D được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1=0,1268 gam; A2 = 0,1226 gam mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ 340” trên giáp lai có chữ ký

4

của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu của Phòng K - Công an tỉnh V.

Ngày 04/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã thông báo Kết luận giám định nêu trên cho Trần Văn TTạ Văn H1. Sau khi được thông báo thì TH1 đều đồng ý và không có ý kiến gì.

Tại cơ quan điều tra, Trần Văn T khai nhận toàn bộ hành vi bán trái phép 01 gói ma túy Heroine cho Bùi Văn N và Tàng trữ trái phép 02 gói ma túy Heroine trong đó T xác định 01 gói có khối lượng 0,1688 gam (không kể bao bì) là gói ma túy mà TH1 góp mỗi người 100.000đ để mua về sử dụng chung; còn 01 gói có khối lượng 0,1445 gam (không kể bao bì) là gói ma túy T mua riêng để sử dụng khi có nhu cầu, cả 02 gói ma túy này T đều mua với giá 200.000đ, khi mua T không biết gói nào có khối lượng lớn hơn gói nào, việc xác định gói ma túy nào là gói TH1 góp tiền mua chung là do T lựa chọn. Tạ Văn H1 cũng khai nhận toàn bộ hành vi góp 100.000đ đưa cho T để T mua 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000đ về cùng nhau sử dụng như đã nêu trên. Khi Cơ quan công an bắt quả tang và thu giữ của T 02 gói ma túy thì H1 mới biết trong quá trình đi mua ma túy T đã mua thêm 01 gói ma túy để T sử dụng riêng. Bản thân H1 biết rõ số tiền 200.000đ chỉ mua được 01 gói ma túy, việc lựa chọn gói ma túy nào là gói ma túy mà H1T góp tiền mua chung trong 02 gói ma túy Cơ quan công an thu giữ của T là do T lựa chọn và H1 sẽ chấp nhận sự lựa chọn đó.

Tại bản Cáo trạng số: 75/CT-VKSVT ngày 11/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Tạ Văn H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Tạ Văn H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58, Điều 55 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội xử phạt bị cáo từ 04 năm tù đến 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 26/12/2023).

5

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Tạ Văn H1 từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 26/12/2023).

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2]. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn TTạ Văn H1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường. Xét lời nhận tội của các bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được, phù hợp với kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở chứng cứ khách quan để kết luận: Hồi 07 giờ 55 phút, ngày 26/12/2023, tại khu vực gần Cơ sở điều trị Methadone V thuộc tổ dân phố N, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, Công an huyện V bắt quả tang Trần Văn TTạ Văn H1 có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý với mục đích sử dụng cho bản thân. Vật chứng thu giữ gồm: T3 tại tay trái T đang cầm 02 gói ma túy Heroine, trong đó 01 gói có khối lượng 0,1688 gam (Không phảy một sáu tám tám gam, không kể bao bì) và 01 gói có khối lượng 0,1445 gam (Không phảy một bốn bốn năm gam, không kể bao bì). TH1 đều thừa nhận gói ma túy Heroine có khối lượng 0,1688 gam là của TH1 mỗi người góp 100.000đ để mua về cùng sử dụng; Còn gói ma túy Heroine có khối lượng 0,1445 gam là do T tự bỏ tiền ra để mua về sử dụng riêng. Vì vậy, xác định tổng khối lượng ma

6

túy Heroine mà T tàng trữ để sử dụng là 0,3133g (không kể bao bì); khối lượng ma túy Heroine mà H1 tàng trữ để sử dụng là 0,1688g (không kể bao bì).

Ngoài hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nêu trên, quá trình điều tra xác định ngày 26/12/2023, T còn có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy Heroine cho Bùi Văn N, sinh năm 1994 trú tại: xã Y, huyện V với giá 250.000đ để thu lời bất chính số tiền 50.000đ. Sau khi mua được ma túy của T thì N đã sử dụng hết số ma túy này nên Cơ quan điều tra không thu giữ được và không xác định được khối lượng ma túy là bao nhiêu.

[3]. Hành vi bán trái phép 01 gói ma túy Heroine cho Bùi Văn N và tàng trữ 0,3133g ma túy Heroine để sử dụng (trong đó: 0,1445 gam ma túy để sử dụng riêng cho bản thân và 0,1688g ma túy để sử dụng chung với Tạ Văn H1) như đã nêu trên của Trần Văn T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi tàng trữ 0,1688g ma túy Heroine để sử dụng chung với Trần Văn T như đã nêu trên của Tạ Văn H1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

...

c) Heroine, C2, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[4]. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam một thời gian nhất định nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân biết chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung trong nhân dân.

7

[5]. Xét nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Đây là vụ án đồng phạm, trong đó bị cáo Trần Văn T là người trực tiếp đi mua ma túy về bán cho người khác để kiếm lời và để sử dụng nên giữ vai trò chính trong vụ án; Bị cáo Tạ Văn H1 là người góp tiền để mua 01 gói ma túy Heroine có khối lượng 0,1688 gam (không kể bao bì) về sử dụng chung với T nên H1 đã đồng phạm với T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bản thân Trần Văn TTạ Văn H1 là người có nhân thân xấu (Năm 2013, T bị Tòa án nhân dân huyện Yên lạc xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và năm 2024 bị UBND xã Đ, huyện Y áp dụng biện pháp giáo dục tại xã; Năm 2020, H1 bị Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội, xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và năm 2023 bị Công an huyện V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”) nhưng TH1 không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật tiếp tục phạm tội.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo nhưng nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù để các bị cáo có thời gian cải tạo thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội. Hình phạt của T phải cao hơn hình phạt của H1.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7]. Về các vấn đề khác:

Ngoài hành vi bán trái phép 01 gói ma túy Heroine cho Bùi Văn N và Tàng trữ trái phép 02 gói ma túy Heroine như đã nêu trên. Quá trình điều tra và tại phiên tòa T còn khai nhận: Ngày 26/12/2023, tại khu vực cổng Cơ sở điều trị Methadone V, trước khi N đến gặp T và hỏi mua ma túy của T thì lần lượt có Bùi Quốc C1, sinh năm 1968, trú tại: TDP B Đ, thị trấn Y, huyện YĐỗ Văn Đ, sinh năm 1974, trú tại: Thôn Y, xã Đ, huyện Y đến gặp T và mỗi người đưa cho T 230.000đ để mua ma túy của T. T đồng ý và cầm tiền của C1, Đ đưa. Sau đó, T đi xe mô tô đến nhà Phùng Thị H3 và mua được 05 gói ma túy Heroine với giá 200.000đ/1 gói, tổng 5 gói hết 1.000.000đ, với mục đích để bán cho N, C1, Đ mỗi người một gói; 01 gói để TH1 sử dụng chung; còn 01 gói T sử dụng số tiền thu lời từ việc bán ma túy cho N, C1, Đ là 110.000đ và tự bỏ thêm ra số tiền 90.000đ mà T mang từ nhà đi để mua về sử dụng riêng cho bản thân

8

khi có nhu cầu. Sau khi mua được ma túy T đi về Cơ sở điều trị M1 và lần lượt đưa cho N, C1, Đ mỗi người 01 gói ma túy Heroine; còn lại 02 gói ma túy Heroine thì T đã bị Cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang như đã nêu trên. Cơ quan điều tra đã triệu tập làm việc với C1Đ. Tuy nhiên, C1Đ khẳng định ngày 26/12/2023, C1Đ không mua ma túy của T như T trình bày. Cơ quan điều tra đã cho T đối chất với C1Đ, đồng thời tiến hành các hoạt động điều tra, xác minh, rà soát camera, làm việc với những người có mặt tại Cơ sở điều trị M1 vào ngày 26/12/2023 nhưng không đủ cơ sở để khẳng định, có hay không việc T bán trái phép chất ma túy Heroine cho C1Đ vào ngày 26/12/2023. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Đối với Phùng Thị H3, sinh năm 1971 ở TDP N, thị trấn T, huyện V, theo lời khai của T thì H3 là người đã bán cho T 05 gói ma túy Heroine vào ngày 26/12/2023. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã triệu tập làm việc với H3 nhưng H3 không thừa nhận việc bán trái phép chất ma túy Heroine cho T như T đã trình bày. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập H3 để đối chất với T nhưng H3 đã từ chối đối chất với T và khẳng định lời khai của mình là đúng sự thật. Bản thân T khai khi mua ma túy của H3 thì chỉ có mình TH3 biết, ngoài ra không có ai biết, chứng kiến. T không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho lời khai của mình. Cơ quan điều tra đã tiến hành các hoạt động điều tra, xác minh, rà soát camera nhưng không đủ cơ sở để khẳng định, có hay không việc Phùng Thị H3 bán trái phép chất ma túy Heroine cho T vào ngày 26/12/2023. Do vậy, Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xử lý đối với H3 nên tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Đối với số ma túy mà N mua của T vào ngày 26/12/2023, quá trình điều tra N khai đã sử dụng hết số ma túy mua của T nên Cơ quan điều tra không thu giữ được số ma túy T bán cho N và không xác định được khối lượng ma túy là bao nhiêu. Căn cứ vào kết quả test nhanh chất ma túy trong nước tiểu của Bùi Văn N do Trạm y tế thị trấn V thực hiện vào ngày 26/12/2023 xác định: Trong nước tiểu của N có chất ma túy Heroine. Do vậy, ngày 16/5/2023 Công an huyện V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.

[8]. Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc xe mô tô BKS: 21T6-5062 là tài sản hợp pháp của ông Trần Văn N1, sinh năm 1977, trú tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (ông N1 là anh trai ruột của T) do ông N1 mua của cửa hàng mua bán xe cũ, ông N1 đã cung cấp được cho Cơ quan điều tra giấy đăng ký của xe. Kết quả tra cứu vật chứng xác định chiếc xe này không nằm trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Buổi

9

sáng ngày 26/12/2023, T mượn chiếc xe trên của ông N1 nói là để đi giải quyết công việc cá nhân, sau đó sử dụng chiếc xe này làm phương tiện đi mua ma túy thì ông N1 hoàn toàn không biết, không liên quan gì. Do vậy, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho ông N1 theo quy định pháp luật. Nhận lại tài sản, ông N1 không có yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen (đã cũ) bên trong lắp sim thuê bao 0868.668.119 (nắp lưng điện thoại bị vỡ) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen (đã cũ) bên trong lắp sim thuê bao 0796.054.395 là tài sản hợp pháp của TH1. Ngày 26/12/2023, TH1 đã sử dụng 02 chiếc điện thoại và sim thuê bao nêu trên để liên hệ, trao đổi góp tiền mua ma túy về sử dụng chung với nhau. Do vậy, cần tịch thu bán phát mại sung vào Ngân sách Nhà nước đối với 02 chiếc điện thoại và tịch thu tiêu hủy đối với 02 sim thuê nêu trên do không có giá trị sử dụng.

Đối với 02 bơm tiêm loại 3ml/cc, 01 lọ nước cất nhãn hiệu Novocain 3% đều còn mới, chưa qua sử dụng thu giữ của H1, quá trình điều tra xác định 02 bơm kim tiêm và lọ nước cất trên do H1 mua để H1T cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy, do không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định.

Đối với số tiền 69.000đ là tài sản hợp pháp của T, do T lao động, tích cóp mà có, không sử dụng vào việc vi phạm pháp luật nên cần trả lại cho T nhưng tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Đối với số tiền 50.000đ T thu lời từ việc bán trái phép chất ma túy cho N, T khai đã sử dụng số tiền này để mua ma túy hết nên cần truy thu của T số tiền 50.000₫.

Đối với mẫu vật A1=0,1268 gam; A2 = 0,1226 gam là ma túy Heroine và toàn bộ bao gói do Cơ quan giám định hoàn trả sau giám định, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định.

[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Tạ Văn H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

10

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 55 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt là 04 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 26/12/2023).

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Tạ Văn H1 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 26/12/2023).

Về các vấn đề khác: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tịch thu bán phát mại sung vào Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen (đã cũ) của Trần Văn T và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen (đã cũ) của Tạ Văn H1.

Trả lại cho bị cáo Trần Văn T số tiền 69.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Truy thu của bị cáo Trần Văn T số tiền 50.000đ là tiền thu lời từ việc bán trái phép chất ma túy.

Tịch thu tiêu hủy 02 bơm tiêm loại 3ml/cc, 01 lọ nước cất nhãn hiệu Novocain 3% đều còn mới, chưa qua sử dụng; sim thuê bao 0868.668.119 của T và sim thuê bao 0796.054.395 của H1.

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn trả lại sau giám định, gồm A1 = 0,1268g và A2= 0,1226g cùng toàn bộ bao gói.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/7/2024 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường).

Các bị cáo Trần Văn TTạ Văn H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm các bị cáo có mặt quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

11

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Vĩnh Tường;
  • - CA huyện Vĩnh Tường;
  • - THADS huyện Vĩnh Tường;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HS + VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lương Văn Tuấn

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG - TỈNH VĨNH PHÚC về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 80/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG - TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tran Van T cùng đồng phạm phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger