Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 80/2024/DS-ST

Ngày: 05 - 8 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Nghĩa.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đinh Thị Hạnh.
  2. Ông Nguyễn Đức Binh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Liên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Trong ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 194/2024/TLST-DS, ngày 14 tháng 5 năm 2024, về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2024, quyết định hoãn phiên toà số 132/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng N.
  2. Địa chỉ: Số B, đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V; Chức vụ: Tổng giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu P; chức vụ: Giám đốc Chi nhánh huyện Đ.

    Người được ủy quyền lại: Bà Cao Thị Hồng H; Chức vụ: Giám đốc Phòng G (Văn bản ủy quyền ngày 14/6/2024).

    Nơi làm việc: Số G, đường L, khu phố G, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

  3. Bị đơn: Bà Thân Thị Đ, sinh năm 1984 và ông Tô Đình T, sinh năm 1983.
  4. Nơi cư trú: Số E, đường P, khu phố C, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa, vắng mặt người được uỷ quyền lại của nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt; vắng mặt bị đơn không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, người được uỷ quyền lại của nguyên đơn là bà Cao Thị Hồng H trình bày: Vào ngày 18/11/2022, ngân hàng N - Chi nhánh huyện Đ- Phòng G có ký hợp đồng tín dụng số 4813-LAV-202208783 với người vay là bà Thân Thị Đ và ông Tô Đình T với số tiền vay là 200.000.000 đồng, giải ngân ngày 18/11/2022. Thời hạn vay là 36 tháng, trả gốc thành 03 lần, lần 1 ngày 30/11/2023 trả 30.000.000 đồng, lần 2 ngày 30/11/2024 trả 50.000.000 đồng và lần 3 ngày 18/11/2025 trả 100.000.00 đồng. Lãi suất khi vay là 11,5%/năm, điều chỉnh theo định kỳ tối thiểu 3 tháng/lần, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay, lãi suất chậm trả là 10%/năm. Khi vay, bên vay có giao cho ngân hàng giữ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 325815 đứng tên chủ sử dụng là Trần Văn Đ1Lê Thị T1 (Cập nhật chuyển nhượng cho ông Tô Đình T và bà Thân Thị Đ ngày 20/10/2022). Từ khi vay đến nay, bà Đ và ông T chỉ mới trả cho ngân hàng tiền lãi phát sinh đến ngày 28/6/2023. Hiện còn nợ lại tiền nợ vay 200.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn, quá hạn, lãi chậm trả từ ngày 29/6/2023 đến nay là 26.816.473 đồng. Khoảng vay đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 01/12/2023, ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng bà Thân Thị Đ và ông Tô Đình T phải trả cho ngân hàng số tiền nợ 226.816.473 đồng (Trong đó, tiền nợ vay là 200.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn, quá hạn, lãi chậm trả từ ngày 29/6/2023 đến nay là 26.816.473 đồng).

Đ và ông T còn phải tiếp tục chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng số 4813-LAV-202208783 giao kết ngày 18/11/2022, từ ngày 06/8/2024 đến khi trả xong tiền nợ vay.

Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về các vấn đề có tranh chấp trong vụ án nhưng bị đơn không tham gia nên không hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự, khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.

Về sự có mặt của các đương sự: Tại phiên toà, vắng mặt người được uỷ quyền lại của nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt; riêng bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có tài liệu, chứng cứ thể hiện sự vắng mặt của bị đơn là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với người được uỷ quyền lại của nguyên đơn và bị đơn.

[2] Nội dung vụ án:

[2.1] Về hợp đồng vay tài sản:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp; phía bị đơn cũng không có văn bản thể hiện ý kiến phản đối đối với yêu cầu của nguyên đơn. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 18/11/2022, ngân hàng N - Chi nhánh huyện Đ- Phòng G có ký hợp đồng tín dụng số 4813-LAV-202208783 với người vay là bà Thân Thị Đ và ông Tô Đình T với số tiền vay là 200.000.000 đồng, giải ngân ngày 18/11/2022. Thời hạn vay là 36 tháng, trả gốc thành 03 lần, lần 1 ngày 30/11/2023 trả 30.000.000 đồng, lần 2 ngày 30/11/2024 trả 50.000.000 đồng và lần 3 ngày 18/11/2025 trả 100.000.00 đồng. Lãi suất khi vay là 11,5%/năm, điều chỉnh theo định kỳ tối thiểu 3 tháng/lần, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay, lãi suất chậm trả là 10%/năm. Khi vay, bên vay có giao cho ngân hàng giữ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 325815 đứng tên chủ sử dụng là Trần Văn Đ1Lê Thị T1 (Cập nhật chuyển nhượng cho ông Tô Đình T và bà Thân Thị Đ ngày 20/10/2022). Từ khi vay đến nay, bà Đ và ông T chỉ mới trả cho ngân hàng tiền lãi phát sinh đến ngày 28/6/2023. Hiện còn nợ lại tiền nợ vay 200.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn, quá hạn, lãi chậm trả từ ngày 29/6/2023 đến nay là 26.816.473 đồng.

[2.2] Về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

Đây là hợp đồng vay tài sản do các bên tự nguyện ký kết, khi ký kết các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Căn cứ vào Điều 466 Bộ luật Dân sự thì bên vay phải trả cho bên cho vay tiền nợ vay và tiền lãi phát sinh.

Khoản 1, 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng, quy định:

“1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.

2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.”

Lãi suất nguyên đơn yêu cầu phù hợp với lãi suất do các bên thoả thuận tại hợp đồng tín dụng nên được chấp nhận.

Vì vậy, yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả số tiền nợ vay 200.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn, quá hạn, lãi chậm trả từ ngày 29/6/2023 đến nay là 26.816.473 đồng, là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Bà Đ và ông T còn phải tiếp tục chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng số 4813-LAV-202208783 giao kết ngày 18/11/2022, từ ngày 06/8/2024 đến khi trả xong tiền nợ vay.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí DSST.

[4] Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, 235, 238, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357, 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự; khoản 1, 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  2. Buộc bà Thân Thị Đ và ông Tô Đình T phải liên đới trả cho ngân hàng N số tiền 226.816.473 đồng (Hai trăm hai mươi sáu triệu tám trăm mười sáu nghìn bốn trăm bảy mươi ba đồng). Trong đó, tiền nợ vay là 200.000.000 đồng và tiền lãi là 26.816.473 đồng.

    Thân Thị Đ và ông Tô Đình T còn phải tiếp tục chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng số 4813-LAV-202208783 giao kết ngày 18/11/2022, từ ngày 06/8/2024 đến khi trả xong tiền nợ vay.

  3. Về án phí DSST:
  4. Thân Thị Đ và ông Tô Đình T phải chịu 11.341.000 đồng (Mười một triệu ba trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) án phí DSST, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.

    Ngân hàng N không phải chịu án phí DSST, được hoàn trả 5.501.000 đồng (Năm triệu năm trăm lẻ một nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004490 ngày 14/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh.

  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - CCTHADS huyện Đức Linh;
  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh;
  • - Lưu HSVA, QĐ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Ngọc Nghĩa

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/DS-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 80/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân Hàng N "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" Thân Thị Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger