Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN KIẾN AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số:80/2024/HS-ST

Ngày 5-7-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lã Anh Tuấn

Bà Trần Thị Trúc Hoa

- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Chính T, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1965 tại Hải Phòng, nơi ĐKHKTT: Số D B, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Ngõ F đường A, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 08/10; nghề nghiệp: Tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Chính L và bà Vũ Thị Đ, đều đã chết; có vợ là Nguyễn Thúy N (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 1992; tiền sự: không; tiền án: có 03 tiền án chưa xoá án tích:

  • + Bản án số 52/2012/HSST ngày 02/3/2012 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản và 04 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 06 năm tù.
  • + Bản án số 06/2012/HS-ST ngày 14/3/2012 Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xử 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
  • + Bản án số 28/2012/HS-ST ngày 16/5/2012, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; tổng hợp hình phạt 06 năm tù của bản án số 52/2012/HSST ngày 02/3/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, buộc chấp hành hình phạt chung là 08 năm tù.
  • + Quyết định tổng hợp hình phạt tù số 02/2012/QĐ-CA ngày 09/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, Phú Thọ tổng hợp hình phạt 08 năm tù của bản án số 28/2012/HS-ST ngày 16/5/2012 của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ với hình phạt 18 tháng tù của Bản án số 06/2012/HS-ST ngày 14/3/2012 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Buộc Nguyễn Chính T phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 09 năm 06 tháng tù.

Nhân thân: Có 01 tiền án đã xoá án tích: Bản án số 41/2020/HSST ngày 20/02/2020, Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 21 tháng tù về Trộm cắp tài sản.

Tạm giữ từ ngày 20/01/2024 đến ngày 26/01/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

2. Hoàng Tiến H, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1967 tại Hải Phòng, nơi ĐKHKTT: SỐ A T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Tổ C thôn C, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 03/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Hoàng Tiến L1 và bà Nguyễn Thị L2, đều đã chết; vợ là Vũ Thị Minh P; có 01 con, sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Có 03 tiền án đã xoá án tích:

  • + Bản án số 13 ngày 19/10/1985, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
  • + Bản án số 09/2009/HSPT ngày 16/01/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử 03 năm tù tội Cướp giật tài sản.
  • + Bản án số 150/2013/HSST ngày 25/09/2013 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, Hải Phòng xử 08 năm tù tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Tạm giữ từ ngày 20/01/2024 đến ngày 26/01/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 25 phút ngày 20/01/2024, Nguyễn Chính T đang ở nhà thì nhận được điện thoại từ số 0375.155.xxx của 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) hỏi mua 01 gói ma túy Heroin, T đồng ý bán ma túy và thống nhất địa điểm giao dịch mua bán ma túy tại khu vực cổng Chợ S1 thuộc phường L, quận K, thành phố Hải Phòng. Cùng lúc này, Hoàng Tiến H là bạn T đi xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, biển kiểm soát: 15B1-114.35 đến. T rủ H chở T đi bán ma túy H1, H đồng ý. Trước khi đi, T đưa cho H 01 áo khoác bên trong túi áo bên trái có 06 gói giấy màu trắng và 01 túi nilon (kích thước 6x4cm) bên trong có 05 gói giấy màu trắng, đều chứa ma túy H2 và bảo H cất giấu áo khoác chứa ma túy vào trong cốp xe mô tô của H để mang đi bán. T còn cất giấu riêng trong túi áo khoác T đang mặc, 01 túi nilon (kích thước 13x8cm), bên trong có 01 túi nilon (kích thước 6,5x4cm) chứa 10 gói giấy màu trắng chứa ma túy; 01 túi nilon (kích thước 6,5x4cm) chứa 05 gói giấy màu trắng và 01 túi nilon (kích thước 6,5x4cm) bên trong có 02 gói giấy màu trắng đều chứa ma túy với mục đích sử dụng cá nhân và bán. T đi xe mô tô trên chở H đến điểm hẹn bán ma túy. Khi đi đến khu vực trước cửa số nhà B T, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng thì T bảo H xuống xe và mở cốp lấy gói ma túy Heroin trong túi áo khoác ra để bán cho khách mua thì bị cơ quan Công an kiểm tra, bắt giữ quả tang.

Quá trình bắt giữ, thu giữ vật chứng gồm: Thu giữ trên người T, 01 túi nilon (kích thước 13x8cm), bên trong có 01 túi nilon (kích thước 6,5x4cm) chứa 10 gói giấy màu trắng; 01 túi nilon (kích thước 6,5x4cm) chứa 05 gói giấy màu trắng; 01 túi nilon (kích thước 6,5x4cm) bên trong có 02 gói giấy màu trắng đều chứa chất bột màu trắng (mẫu số 01). Thu giữ tại túi áo khoác bên trái của T để trong cốp xe mô tô biển kiểm soát: 15B1-114.35 có 06 gói giấy màu trắng và 01 túi nilon (kích thước 6x4cm) bên trong có 05 gói giấy màu trắng, đều chứa chất bột màu trắng (mẫu số 02). Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát: 15B1-114.35 và 01 điện thoại Nokia màu xanh, bàn phím nổi (đã qua sử dụng) của H; 01 điện thoại Redmi vỏ màu đen (đã qua sử dụng) của Nguyễn Chính T.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Chính T tại ngõ F đường A, xã A, huyện A, Hải Phòng và Hoàng Tiến H ở tổ C, thôn C, xã A, huyện A, Hải Phòng. Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được đồ vật, tài liệu liên quan.

Tại Kết luận giám định số 98/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng PC09 - C, kết quả: Chất bột màu trắng của mẫu số 01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,29 gam, loại Heroine. Chất bột màu trắng của mẫu số 02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,40 gam, loại Heroine.

Tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Chính T và Hoàng Tiến H. Kết quả, H và T đều dương tính với ma túy M.

Quá trình điều tra, Nguyễn Chính T và Hoàng Tiến H khai nhận phù hợp nội dung trên. Ngoài ra:

Nguyễn Chính T khai, nguồn gốc toàn bộ số ma túy bị cơ quan Công an thu giữ là của T mua của một người phụ nữ không quen biết, tại khu vực đường T, quận L, Hải Phòng trước ngày bị bắt khoảng 05 ngày với giá 3.200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T chia nhỏ số ma túy trên vào 30 gói giấy màu trắng. T đã một mình sử dụng hết 02 gói ma túy, còn lại 28 gói Trường cất giấu để sử dụng và nếu ai hỏi mua thì T sẽ bán. T không nói cho H biết số ma túy T cất giấu riêng trong người. Ngày 20/01/2024 là lần đầu tiên T và H đi bán số ma túy được cất giấu trong cốp xe mô tô của H. Nguồn gốc số tiền 3.200.000 đồng mua ma túy, do T lao động mà có. Chiếc điện thoại Redmi vỏ màu đen T dùng để liên lạc với người mua ma túy.

Hoàng Tiến H khai, H không biết và không liên quan đến số ma túy T cất giấu riêng trong người Trường. Nguồn gốc xe mô tô biển kiểm soát: 15B1-114.35, H mượn của bà Trần Thị Xuân H3 (sinh năm 1965, trú tại: số C Dư H, quận L, Hải Phòng), H không nói cho bà H3 biết việc sử dụng xe mô tô để đi mua bán ma túy. Chiếc điện thoại Nokia thu giữ là tài sản của H không liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại Cáo trạng số 86/CT-VKSKA ngày 19/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo Nguyễn Chính T và Hoàng Tiến H về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Chính T và Hoàng Tiến H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến gì về bản cáo trạng. Các bị cáo đều nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, và việc truy tố xét xử các bị cáo là đúng pháp luật, không oan.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng.

Sau phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội:

Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Chính T

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Tiến H, đề nghị xử phạt:

  1. Nguyễn Chính T: 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2024.
  2. Hoàng Tiến H: 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2024.

Miễn phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: số ma tuý còn lại sau giám định.
  • - Tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Redmin vỏ màu đen.
  • - Trả lại cho bị cáo H: 01 điện thoại Nokia màu đen.

Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với quan điểm của kiểm sát viên. Tại phần nói lời sau cùng: Các bị cáo đều nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ân hận về hành vi của mình, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử khoan hồng, cho các bị cáo mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không ai có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về nội dung:

[2] Về tội danh: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận:

Hồi 11 giờ 40 phút ngày 20/01/2024, các bị cáo Nguyễn Chính THoàng Tiến H đã cùng nhau thực hiện hành vi bán trái phép 1,40 gam Heroine cho khách để kiếm lời. Riêng, bị cáo Nguyễn Chính T còn có hành vi cất giấu trái phép 2,29 gam Heroine với mục đích bán kiếm lời thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực trước cửa nhà số B T, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Chính THoàng Tiến H đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3]. Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo Nguyễn Chính THoàng Tiến H đã cùng nhau thực hiện hành vi bán trái phép 1,40 gam Heroine. Riêng, bị cáo Nguyễn Chính T còn có hành vi cất giữ trái phép 2,29 gam Heroine với mục đích bán kiếm lời thì bị phát hiện nên các bị cáo bị xét xử theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của nhà nước, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự xã hội tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác nên cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Về vai trò:

Bị cáo T là người trực tiếp chuẩn bị ma tuý và trực tiếp giao dịch mua bán ma tuý với khách, trực tiếp lái xe chở bị cáo H đi giao ma tuý, chỉ đạo bị cáo H cất áo khoác có cất giấu ma tuý vào trong cốp xe để mang đi bán. Bị cáo H tham gia phạm tội với vai trò là người giúp sức cho bị cáo T đi bán ma tuý cho khách nên vai trò của bị cáo T cao hơn vai trò bị cáo H.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo T có 3 tiền án trong đó:

Bản án số 52/2012/HSST ngày 02/3/2012 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 06 năm tù về tội Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy (thực hiện hành vi phạm tội ngày 11/10/2011). Về án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng, bị cáo đã thi hành số tiền 10.000 đồng ngày 18/7/2018, số tiền còn lại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định đã ủy thác cho Chi cục thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, Hải Phòng theo quyết định ủy thác thi hành án số 44 ngày 25/7/2012. Kết quả xác minh, Chi cục thi hành án dân sự quận Hồng Bàng không có hồ sơ thi hành án dân sự của Nguyễn Chính T.

Bản án số 06/2012/HS-ST ngày 14/3/2012 Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xử 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (hành vi phạm tội thực hiện ngày 10/10/2011). Về án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng, thi hành xong năm 2012. Khi bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội tại bản án này bị cáo chưa bị xét xử theo hành vi phạm tội của bản án số 52 (tức hành vi phạm tội trước xử sau) nên không coi bản án số 52 là tái phạm.

Bản án số 28/2012/HS-ST ngày 16/5/2012, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (phạm tội ngày 12/5/2011 và ngày 17/5/2022); tổng hợp hình phạt 06 năm tù của bản án số 52/2012/HSST ngày 02/3/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, hình phạt chung phải chấp hành là 08 năm tù. Bị cáo chưa thi hành bồi thường cho bị hại số tiền 13.687.500 đồng, chưa có đơn yêu cầu thi hành án của chị bị hại. Đối với 200.000đ tiền án phí hình sự và 684.000đ án phí dân sự sơ thẩm đã thi hành xong ngày 09/10/2017. Khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội của bản án này (ngày 12/5/2011) bị cáo chưa bị xét xử đối với các hành vi phạm tội của bản án số 52 và bản án số 06 trên (hành vi phạm tội trước xử sau) nên không coi bản án số 52 và bản án số 06 là tái phạm.

Quyết định tổng hợp hình phạt tù số 02/2012/QĐ-CA ngày 09/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ tổng hợp hình phạt 08 năm tù của bản án số 28/2012/HS-ST ngày 16/5/2012 với hình phạt 18 tháng tù của bản án số 06/2012/HS-ST ngày 14/3/2012. Buộc Nguyễn Chính T phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 09 năm 06 tháng tù. Ngày 12/02/2019, bị cáo thi hành xong án phạt tù. Đến năm 2020, bị cáo lại tiếp tục phạm tội mới theo Bản án số 41/2020/HSST ngày 20/02/2020, Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 21 tháng tù về Trộm cắp tài sản. Ngày 30/7/2021, mới chấp hành xong án phạt tù.

Căn cứ Điều 70, 73 Bộ luật Hình sự 3 tiền án trên bị cáo T đều chưa được xóa án tích, nhưng đối với các Bản án số 52/2012/HSST ngày 02/3/2012 và bản án số 06/2012/HS-ST ngày 14/3/2012 khi xét xử các bản án trước đều không tính là tái phạm, đối với bản án số 28/2012/HS-ST ngày 16/5/2012 bị cáo chưa được xoá án tích nên lần này bị cáo lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[7.1] Về nhân thân:

[7.1.1] Bị cáo T có 01 tiền án: Bản án số 41/2020/HSST ngày 20/02/2020, Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 21 tháng tù về Trộm cắp tài sản. Ngày 30/7/2021, chấp hành xong án phạt tù. Ngày 09/6/2020, thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ Điều 70, Điều 73 Bộ luật Hình sự đối với tiền án này của bị cáo T đã được xoá án tích nhưng vẫn coi là bị cáo có nhân thân xấu.

Theo trích lục tiền án, tiền sự ngày 23/02/2024 của bị cáo T thể hiện bị cáo bị công an huyện T bắt về hành vi vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác nhưng không thể hiện cơ quan nào xét xử hay xử phạt hành chính, qua biên bản xác minh ngày 19/3/2024 công an huyện T không có trường hợp xử phạt hành chính đối với bị cáo Nguyễn Chính T nên không có căn cứ xác định tiền án, tiền sự trên.

[7.1.2] Bị cáo H có 03 tiền án:

Bản án số 13 ngày 19/10/1985, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Qua xác minh Tòa án nhân dân quận Lê Chân không lưu hồ sơ, bản án. Tuy nhiên, tại phiên toà bị cáo khai nhận đã bị xét xử theo bản án này là chính xác. Xác minh tại Cục Hồ sơ nghiệp vụ ngày 03 tháng 5 năm 2024 không có giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù theo bản án số 13 ngày 19/10/1985 của TAND thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên, tại Bản án số 239/2008/HSST ngày 17/11/2008 của TAND quận Lê Chân (Bản án này bị kháng cáo và đã xét xử phúc thẩm theo bản án số 09/2009/HSPT) cũng đã nhận định bị cáo H có 01 tiền án ngày 19/10/1985, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bản án này đã được xoá án tích.

Bản án số 09/2009/HSPT ngày 16/01/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử 03 năm tù tội Cướp giật tài sản, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Ngày 27/01/2011, chấp hành xong án phạt tù. Ngày 09/7/2009, thi hành xong án phí dân sự, hình sự sơ thẩm. Đối với số tiền 1.500.000 đồng bồi thường cho bị hại, gia đình bị cáo H đã bồi thường cho bị hại trước khi xét xử phúc thẩm ngày 16/01/2009.

Bản án số 150/2013/HSST ngày 25/09/2013 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử 08 năm tù tội Mua bán trái phép chất ma túy và phạt bổ sung 5.000.000 đồng. Ngày 03/5/2019, bị cáo chấp hành xong án phạt tù. Ngày 24/01/2014, thi hành xong phần hình phạt tiền và án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 70, 73 Bộ luật Hình sự 3 tiền án trên bị cáo H đều đã được xóa án tích nhưng vẫn coi là bị cáo có nhân thân xấu.

Đối với bị cáo H theo trích lục tiền án, tiền sự bị cáo có nhiều lần bị công an quận L bắt giữ về các hành vi trộm cắp tài sản, trốn khỏi nơi giam, cố ý gây thương tích nhưng không thể hiện cơ quan nào xét xử hay xử phạt hành chính, theo biên bản xác minh ngày 02/04/2024 tại công an quận L còn lưu giữ sổ sách trước năm 1989 nên không có căn cứ xác định bị cáo có các tiền án, tiền sự trên.

[7.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với 2 bị cáo. Bị cáo H có mẹ đẻ được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[8] Về hình phạt: Căn cứ nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy nhân thân các bị cáo đều đã có nhiều tiền án trong khoảng thời gian liên tiếp, chứng tỏ các bị cáo chưa có ý thức chấp hành pháp luật, chưa thực sự hối lỗi nên cần áp dụng trên mức khởi điểm của khung hình phạt tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với 2 bị cáo để răn đe, phòng ngừa chung, và mức hình phạt của bị cáo T cao hơn bị cáo H.

[9] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự phạt tiền mỗi bị cáo mức 5.000.000đ.

[10] Về xử lý vật chứng:

Cơ quan công an đã thu giữ:

  • - Số ma tuý còn lại sau giám định.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150 màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmin 9A vỏ màu đen.

HĐXX xét:

  • - Số ma tuý còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - Đối với 01 điện thoại Nokia màu đen là tài sản của bị cáo H, không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Đối với 01 điện thoại Redmin vỏ màu đen là tài sản của bị cáo T dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước.

[11] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[12] Về các vấn đề khác:

Đối với số điện 0375155740, kết quả xác minh đăng ký tên chị Lương Thị D (sinh năm 1991, trú tại Bản P, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La). Chị D không sử dụng và không biết ai sử dụng số điện thoại này.

Đối với đối tượng phụ nữ đã bán ma túy cho T và người nam giới hẹn mua ma túy của T, hiện chưa rõ nhân thân lai lịch, nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Đối với xe môtô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE biển kiểm soát: 15B1-114.35, quá trình điều tra xác định bà Trần Thị Xuân H3 là chủ sở hữu hợp pháp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã trả lại chiếc xe trên cho bà H3 là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Chính T

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Tiến H.

1.Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Chính T, Hoàng Tiến H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

  1. Nguyễn Chính T: 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2024.
  2. Hoàng Tiến H: 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2024.

Phạt tiền mỗi bị cáo 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: Số ma tuý còn lại sau giám định cùng các vỏ bao bì được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín niêm phong 98MT/PC09 ngày 20/01/2024 của Phòng P1. (Đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).
  • - Trả lại nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Hoàng Tiến H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150 vỏ màu đen.
  • - Tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmin 9A màu đen.

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Kiến An;
  • - Cơ quan CSĐT Công an quận Kiến An;
  • - Chi Cục THA dân sự quận Kiến An;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - TAND TP.Hải Phòng;
  • - PV06 Công an TP. Hải Phòng;
  • - Cơ quan THA hình sự CA quận Kiến An;
  • - Trại tạm giam Công an TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng.
  • - UBND phường nơi các bị cáo cư trú;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngọc Ngà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 80/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: có tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger