Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 80/2024/HS-ST

Ngày: 04/7/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Ông Phạm Xuân Diễn.

Các Hội thẩm nhân dân :

  • Ông Đàm Chí Thân ;
  • Ông Vũ Khắc Hoàn.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Phúc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 64/2024/TLST-HS, ngày 31 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST- HS, ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, đối với các bị cáo :

  1. Nguyễn Văn T (giới tính: nam), sinh ngày 15/7/1992, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh;
  2. Nơi cư trú: thôn E, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh;

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn Văn V (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T1, bị cáo chưa có vợ con

    • Tiền án, tiền sự: không có;
    • Nhân thân: ngày 18/11/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong bản án ngày 13/8/2020.
    • Bị cáo bị bắt, bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giam từ ngày 11/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.
  3. Đàm Thị H (giới tính: nữ), sinh ngày: 05/10/1986, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh;
  4. Nơi cư trú: thôn T, xã T, thị xã Q, Tỉnh Quảng Ninh;

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: lớp 09/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Đàm Quang Đ và bà Đống Thị T2, bị cáo có chồng là Phạm Trung K (đã ly hôn) và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2017.

    • Tiền án, tiền sự: không có;
    • Bị cáo bị bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giam từ ngày 11/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  • Bà Phạm Thị M, sinh năm 1964, địa chỉ: thôn A, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
  • Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1965, địa chỉ: thôn A, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
  • Anh Bùi Văn L, sinh năm 1992, địa chỉ: thôn A, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
  • Bà Đinh Thị H1, sinh năm 1967, địa chỉ: thôn A, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

Đều vắng mặt tại phiên tòa (các bị hại đều có đơn xin vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Trần Văn T3, sinh năm 1981; địa chỉ: khu T, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa (anh T3 có đơn xin vắng mặt).
  • Anh Ngô Đức M1, sinh năm 1977, địa chỉ: khu R, phường Q, thị xã Q, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy và không có việc làm nên Nguyễn Văn T nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô bán lấy tiền mua ma túy để sử dụng. Khoảng đầu tháng 01/2024, T một mình đi đến khu vực gần cầu C, thuộc thôn G, xã S, thị xã Q, thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 14B1-829.39 không có người trông coi, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa nên T liền trộm cắp chiếc xe này rồi gắn biển kiểm soát 14X1-463.68 nhặt được trước đó để tránh bị phát hiện. Tiếp đó, T rủ Đàm Thị H cùng đi trộm cắp tài sản, H đồng ý. Trong khoảng thời gian từ ngày 24/01/2024 đến ngày 11/3/2024, T và H đã sử dụng xe mô tô Yamaha Sirius gắn biển kiểm soát 14X1-463.68 đi quanh khu vực xã H và xã S, thị xã Q tìm xe mô tô để trộm cắp, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: khoảng 14 giờ ngày 24/01/2024, tại khu vực cánh đồng sau khu công nghiệp A, thuộc thôn A, xã S, thị xã Q, thấy xe mô tô Honda Wave Alpha biển kiểm soát 14X1-115.00 của bà Phạm Thị M (sinh năm 1964, trú tại thôn A, xã S) dựng ở lề đường, chìa khóa cắm ở ổ khóa, T điều khiển xe mô tô 14X1-463.68 lên cách khoảng 300m, đưa xe lại cho H điều khiển rồi đi bộ quay lại lấy xe mô tô của bà M. Sau đó T mang xe sang khu vực cầu K, thuộc huyện T, thành phố Hải Phòng bán cho đối tượng tên T4 (không rõ lai lịch, địa chỉ) được 1.000.000 đồng. Số tiền này T mua ma túy và sử dụng hết.

- Lần thứ hai: Khoảng 15 giờ ngày 22/02/2024, tại đường dân sinh thuộc thôn A, xã H, thị xã Q, T và H phát hiện thấy xe mô tô Honda Wave Alpha biển kiểm soát 14H4-3853 của ông Nguyễn Ngọc C (Sinh năm 1965, trú tại thôn A, xã H) dựng bên đường, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa. T đi xe lên cách khoảng 200m để H ở lại coi xe rồi T đi bộ lại lấy chiếc xe mô tô của ông C mang đến quán sửa xe của anh Trần Văn T3 (sinh năm 1981) ở khu C, phường Y, thị xã Q, bán cho anh T3 với giá 800.000 đồng. Số tiền này T mua ma túy để sử dụng hết.

- Lần thứ ba: Khoảng 14 giờ 20 phút, ngày 29/02/2024, cũng tại đoạn đường dân sinh thuộc thôn A, xã H, thị xã Q, cả hai thấy xe mô tô Honda Wave S biển kiểm soát 14X1-075.04 của anh Bùi Văn L (sinh năm 1992, trú tại thôn A, xã H) dựng ở lề đường, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa nên H đi xe lên phía trước cảnh giới, còn T đi bộ lại lấy xe mô tô của anh L rồi mang đến bán cho anh Trần Văn T3 với giá 800.000 đồng. Số tiền bán xe, T mua cho H 01 thẻ cào điện thoại mệnh giá 50.000 đồng, số còn lại T mua ma túy sử dụng.

- Lần thứ tư: Khoảng 12 giờ ngày 08/03/2024, tại khu vực bờ ruộng cạnh đường dân sinh thuộc thôn C, xã H, thị xã Q, cả hai phát hiện thấy xe máy điện hiệu Giant của bà Đinh Thị H1 (sinh năm 1967, trú tại thôn A, xã S, thị xã Q) dựng ở lề đường, chìa khóa cắm ở ổ khóa. T đưa xe mô tô cho H điều khiển rồi lấy xe máy điện mang về bán cho anh T3 nhưng anh T3 không mua. Trên đường điều khiển xe điện về nhà T gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch địa chỉ) tự nhận là chủ xe nên T yêu cầu người này phải chuộc lại xe với giá 700.000 đồng, người này đồng ý và đưa tiền cho T. Số tiền này T dùng mua ma túy để sử dụng.

Đến 15 giờ 30 phút ngày 11/3/2024, tại thôn C, xã C, thị xã Q, Công an thị xã Q kiểm tra hành chính đối với T và H, thu giữ xe mô tô Yamaha Sirius gắn biển kiểm soát 14X1-463.68. Sau đó T giao nộp biển kiểm soát 14B1-829.39, anh T3 giao nộp xe mô tô Honda Wave A và xe Honda Wave S. Xe mô tô Honda Wave Alpha biển kiểm soát 14X1-115.00, xe máy điện hiệu Giant, các biển kiểm soát xe mô tô số 14X1-075.04, 14H4-3853, cơ quan điều tra ra quyết định truy tìm nhưng chưa thu hồi được.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 10 ngày 18/3/2024 và số 23 ngày 23/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Q kết luận: Xe mô tô Yamaha Sirius (14B1-829.39) trị giá 5.700.000 đồng; Xe mô tô nhãn hiệu H2 (14X1-115.00) trị giá 6.300.000 đồng; Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha (14H4-3853) trị giá 5.610.000 đồng; Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S trị giá 5.637.000 đồng; Xe máy điện nhãn hiệu Giant trị giá 3.300.000 đồng.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn T và Đàm Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Về vật chứng: xe mô tô Honda Wave A, Honda Wave S do anh T3 giao nộp, quá trình điều tra xác định là xe của anh Bùi Văn L và ông Nguyễn Ngọc C, chiếc biển kiểm soát 14X1-463.68 là của anh Ngô Đức M1, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Bản cáo trạng số 880/CT-VKSQY, ngày 30/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T và Đàm Thị H, về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận như sau: Do cần tiền tiêu xài cá nhân và để có tiền mua ma túy sử dụng, T đã 05 lần trộm cắp xe máy, trong đó một lần tự mình trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 14B1-829.39 ở khu vực gần cầu C, thuộc thôn G, xã S, thị xã Q vào đầu tháng 01/2024, còn 04 lần trộm cắp xe còn lại đều cùng với bị cáo H trộm cắp là ngày 24/01/2024, tại khu vực cánh đồng sau khu công nghiệp A, thuộc thôn A, xã S, thị xã Q, thấy xe mô tô Honda Wave Alpha biển kiểm soát 14X1-115.00, T mang xe sang khu vực cầu K, thuộc huyện T, thành phố Hải Phòng bán cho đối tượng tên T4 (không rõ lai lịch, địa chỉ) được 1.000.000 đồng. lần thứ hai là ngày 22/02/2024, T và H trộm cắp xe mô tô Honda Wave Alpha biển kiểm soát 14H4-3853 của ông Nguyễn Ngọc C thôn A, xã H, T bán cho anh Trần Văn T3 ở khu C, phường Y, thị xã Q với giá 800.000 đồng, lần thứ ba T và H trộm cắp xe mô tô Honda Wave S biển kiểm soát 14X1-075.04 của anh Bùi Văn L ở thôn A, xã H rồi mang đến bán cho anh Trần Văn T3 với giá 800.000 đồng, T mua cho H 01 thẻ cào điện thoại mệnh giá 50.000 đồng, lần thứ tư trộm cắp xe máy điện hiệu Giant của bà Đinh Thị H1 ở thôn A, xã S, thị xã Q sau đó một người phụ nữ (không rõ lai lịch địa chỉ) tự nhận là chủ xe nên T yêu cầu người này phải chuộc lại xe với giá 700.000 đồng, T cũng khai thêm, các lần trộm cắp T đều rủ rê H cùng tham gia và đều dùng số tiền bán được xe dùng vào việc mua ma túy sử dụng cho bản thân, chỉ một lần nạp thẻ điện thoại cho H 50.000đồng.

Bị cáo H thừa nhận lời khai của bị cáo T là đúng, do ở cùng T ban đầu T rủ trộm cắp H không tham gia nhưng sau do T không có tiền mua ma túy nên H đã đồng ý cùng Thủy gia trộm cắp và chỉ tham gia với vai trò cảnh giới, ngoài ra cũng không được T chia tiền khi trộm cắp được xe ngoại trừ số tiền nạp thẻ điện thoại 50.000đồng.

Các bị hại, gồm: chị Phạm Thị M có lời khai xác nhận chiều ngày 24/01/2024 chị bị kẻ gian lấy trộm 01 chiếc xe Honda Wave Alpha biển kiểm soát 14X1-115.00 khi đang đi làm đồng, nay chị yêu cầu bị cáo bồi thường 6.300.000đồng; ông Nguyễn Ngọc C khai chiều ngày 22/02/2024 ông bị mất 01 chiếc xe mô tô Honda Wave Alpha 14H4-3853, nay ông đã nhận lại chiếc xe và không yêu cầu gì về phần dân sự; anh Bùi Văn L xác nhận chiều ngày 29/02/2024 anh bị mất chiếc xe Honda WaveS biển kiểm soát 14X1-075.04, nay cơ quan công an đã tìm ra thủ phạm và mình đã nhận lại xe nên anh không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm; bà Đinh Thị H1 xác nhận khoảng 12 giờ ngày 08/3/2024 bà bị kẻ gian trộm cắp 01 chiếc xe máy điện hiệu Giant tại đường dân sinh thuộc thôn C, xã H, thị xã Q, nay bà yêu cầu bị cáo bồi thường 3.300.000đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, anh Trần Văn T3 khai đã hai lần mua xe của đôi nam nữ, sau mới biết là bị cáo T và H sau, 01 chiếc Honda Wave Alpha màu đỏ và 01 chiếc Honda Wave alphaS không biển kiểm soát, họ nói giấy tờ bị mất và bán theo giá phế liệu nên anh đã mua mỗi chiếc giá 800.000đồng, anh không biết các xe này do trộm cắp mà có, nay anh không yêu cầu bị cáo phải trả lại 1.600.000đồng anh đã mua hai chiếc xe; anh Ngô Đức M1 là người bị mất biển số xe 14X1-463.68 mà bị cáo lắp vào xe máy Sirius để đi trộm cắp, anh đã nhận lại biển số và không yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND thị xã Quảng Yên giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T từ 15 đến 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2024. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đàm Thị H từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2024. Áp dụng Điều 357, 468, khoản 1 Điều 584, 585,586, 587, khoản 1 Điều 589 BLDS buộc bị cáo T bồi thường cho bà M 6.300.000đồng, bà H1 3.300.000đồng. Truy thu bị cáo T 1.550.000đồng, bị cáo H 50.000đồng nộp ngân sách nhà nước.

Các bị cáo thừa nhận tội danh và hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Các bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên tham gia trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự và bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, HĐXX khẳng định các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và căn cứ kết tội: tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T và Đàm Thị H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ bản ảnh hiện trường, Bản kết luận định giá tài sản... đã có đầy đủ cơ sở để kết luận:

Từ ngày 24/01/2024 đến ngày 08/3/2024, trên địa bàn xã S và xã H, thị xã Q, Nguyễn Văn T và Đàm Thị H có hành vi trộm cắp 04 xe mô tô gồm: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 14X1-115.00 của bà Phạm Thị M trị giá 6.300.000 đồng; Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 14H4-3853 của ông Nguyễn Ngọc C trị giá 5.610.000 đồng; Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S biển kiểm soát 14X1-075.04 của anh Bùi Văn L trị giá 5.637.000 đồng; Xe máy điện nhãn hiệu Giant của bà Đinh Thị H1 trị giá 3.300.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là: 20.847.000 đồng

Cáo trạng số 880/CT-VKSQY, ngày 30/5/2024 của VKSND thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T và Đàm Thị H là có căn cứ pháp luật.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T và Đàm Thị H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T và Đàm Thị H là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức được hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật, bị cáo liên tiếp có hành vi trộm cắp tài sản, thể hiện sự coi thường pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : hai bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: quá trình điều tra và tại phiên tòa hai bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 BLHS, riêng bị cáo T có bố là ông Nguyễn Văn V được tặng thưởng huy chương kháng chiến nên bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS.

Mặc dù các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ nêu trên, xong khi xem xét HĐXX thấy rằng bị cáo T là người khởi xướng giữ vai trò chính hưởng lợi gần như toàn bộ tài sản đã chiếm đoạt, ngoài ra bị cáo T còn có một nhân thân xấu; đối với bị cáo H là người bị động bị rủ rê lôi kéo, giữ vai trò thứ yếu, giúp sức, hơn nữa hưởng lợi từ việc trộm cắp không đáng kể (50.000đồng), do đó HĐXX thấy cần phải áp dụng một mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Khi xem xét cần cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nhà nước ta.

Về hình phạt bổ sung: các bị cáo đều không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, HĐXX thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với việc anh Trần Văn T3 hai lần mua xe của bị cáo nhưng không biết do trộm cắp mà có, cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý, HĐXX không đề cập.

[3] Về trách nhiệm dân sự: đối với bị hại, bà M yêu cầu bồi thường giá trị chiếc xe 6.300.000đồng, bà Đinh Thị H1 yêu cầu bồi thường 3.300.000đồng, tại phiên tòa bị cáo T tự nguyện nhận bồi thường toàn bộ số tiền bà M và bà H1 yêu cầu, tổng là 9.600.000đồng, bị cáo H chấp nhận để mình bị cáo T bồi thường, HĐXX thấy rằng các bị cáo phải liên đới bồi thường cho bị hại, tuy nhiên với tính chất vai trò từng bị cáo trong vụ án và việc bị cáo T hưởng lợi gần như toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt nên bị cáo T tự nguyện nhận bồi thường cho các bị hại, HĐXX chấp nhận sự tự nguyện bồi thường này của bị cáo T.

Đối với số tiền hai lần bị cáo T bán xe trộm cắp được cho anh Trần Văn T3 được 1.600.000đồng, anh T3 có quan điểm không yêu cầu bị cáo T trả lại, tuy nhiên cần truy thu bị cáo T để sung ngân sách nhà nước.

[4] Về vật chứng của vụ án:

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 14H4-3853 của ông Nguyễn Ngọc C và xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S biển kiểm soát 14X1-075.04 của anh Bùi Văn L, ông C1 và anh L đã nhận lại đầy đủ và không yêu cầu gì thêm, HĐXX không đề cập.

Đối với 01 biển số xe mô tô có số14X1-463.68, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Ngô Đức M1, HĐXX không đề cập.

Đối với người thanh niên tên T4 ở khu vực cầu K, huyện T thành phố Hải Phòng đã mua lại xe trộm cắp mà có của T và người phụ nữ tự nhận và chuộc lại chiếc xe điện Giant, cơ quan điều tra tách ra làm rõ xử lý sau, HĐXX không đề cập.

Đối với xe mô tô Yamaha Sirius biển kiểm soát 14B1-829.39, T khai bản thân đi trộm cắp, tuy nhiên cơ quan điều tra chưa xác định được chủ sở hữu, tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau, HĐXX không đề cập.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo T phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H.

Tuyên bố: Nguyễn Văn T, Đàm Thị H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;

1. Về hình phạt :

Xử phạt: Nguyễn Văn T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 11/3/2024.

Xử phạt: Đàm Thị H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 11/3/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự: buộc bị cáo Nguyễn Văn T có trách nhiệm bồi thường cho bà Phạm Thị M 6.300.000đ (sáu triệu ba trăm nghìn đồng), và bà Đinh Thị H1 số tiền 3.300.000đ (ba triệu ba trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Nguyễn Văn T không tự nguyện thi hành số tiền trên thì hàng tháng bị cáo Nguyễn Văn T còn phải chịu khoản tiền lãi chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Truy thu bị cáo Nguyễn Văn T 1.550.000đ (một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) sung ngân sách nhà nước.

Truy thu bị cáo Đàm Thị H 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) sung ngân sách nhà nước.

4. Về án phí và quyền kháng cáo: áp dụng khoản 2 Điều 136; khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q khóa 14, buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Đàm Thị H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 480.000đ (bốn trăm tám mươi nghìn đồng) án phí dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo; vắng mặt các bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; báo cho bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Qninh;
  • - VKSND, Công an Tx Quảng Yên;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - Bị cáo, Bị hại;
  • - Người CQLNVLQ;
  • - Thi hành án dân sự, HS;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Xuân Diễn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về vụ án hình sự (tội trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 80/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tội Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Thủy, Đàm Thị Huyến trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger