|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 80/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 04-7-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Thạch Thị Thanh Duyên.
2/ Ông Trần Văn Ấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thơ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thuý – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 138/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thuý N, sinh năm 1994. (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: ấp P, xã P1, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Anh Phạm Minh T, sinh năm 1987. (vắng mặt)
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm V, phường T, thành phố V1, tỉnh Vĩnh Long.
Hiện cư trú: ấp P, xã P1, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Người làm chứng: Bà Huỳnh Thị Q, sinh năm 1968. (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: ấp P, xã P1, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 26/3/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thuý N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Minh T thành hôn vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố V1, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 05/01/2013. Thời gian chung sống lúc đầu có hạnh phúc, trong khoảng 10 năm nay vợ chồng không còn tình cảm, phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi, được gia đình hai bên khuyên ngăn nhưng vợ chồng cảm thấy không còn chung sống với nhau được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Phạm Minh T.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Như Y, sinh ngày 09/5/2014 và Phạm Như N, sinh ngày 05/4/2019 hiện đang sống chung với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 30/5/2024, người làm chứng bà Huỳnh Thị Q trình bày: Bà là mẹ ruột của chị Nguyễn Thị Thuý N. Giữa chị N và anh T có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn. Sau khi thành hôn chị N và anh T sống bên gia đình bà được một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn, cự cãi, anh T thường xuyên bỏ nhà về ở bên mẹ ruột của anh T. Sau khi trở về sống cùng chị N thì anh T thường xuyên ăn nhậu, kiếm chuyện chửi bới chị N, đập phá đồ đạc, không phụ chị N chăm lo cho gia đình, một mình chị N phải lo cho các con. Về con chung của chị N và anh T có 02 con chung hiện đang sống với chị N, điều kiện sống của cháu được đảm bảo, các cháu phát triển tốt về mọi mặt. Về tài sản chung, nợ chung của chị N và anh T thì bà không biết.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Về trình tự, thủ tục tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn không có bản khai, không đến tham dự các phiên hoà giải, phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và vắng mặt không lý do là vi phạm quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người làm chứng có ý kiến trình bày xin vắng mặt tại phiên tòa, đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Áp dụng Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Giải quyết cho chị Nguyễn Thị Thuý N được ly hôn với anh Phạm Minh T. Về con chung: Giao 02 con chung tên Phạm Như Y, sinh ngày 09/5/2014 và Phạm Như N, sinh ngày 05/4/2019 cho chị Nguyễn Thị Thuý N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Phạm Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị N nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thuý N yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long giải quyết ly hôn, nuôi con chung với anh Phạm Minh T cư trú ấp P, xã P1, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
[1.2] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thuý N có đơn xin vắng mặt ngày 30/5/2024, bị đơn anh Phạm Minh T được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng bị đơn vẫn vắng mặt lần thứ hai không lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị Thuý N và anh Phạm Minh T thành hôn có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, thành phố V1, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận kết hôn số 02 vào ngày 05/01/2013 nên xem quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T là hợp pháp.
Xét trong quá trình chung sống vợ chồng giữa chị N và anh T thời gian đầu có hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cự cãi, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, được gia đình khuyên ngăn nhưng vợ chồng không còn chung sống với nhau được nữa. Theo lời khai của bà Huỳnh Thị Quyến là mẹ ruột của anh T thì giữa chị N và anh T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, anh T thường bỏ nhà về ở bên mẹ ruột của anh T, khi về sống chung cùng chị N thì anh T thường xuyên ăn nhậu, kiếm chuyện chửi bới chị N, đập phá đồ đạc, không phụ chị N để chăm lo cho gia đình. Sau khi Tòa án thụ lý đã ra giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để Toà án hoà giải giúp đỡ đoàn tụ nhưng anh T vắng mặt không lý do. Như vậy cho thấy tình cảm giữa chị N và anh T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét yêu cầu ly hôn của chị N là có cơ sở phù hợp Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Xét thấy 02 con chung tên Phạm Như Y, sinh ngày 09/5/2014 và Phạm Như N, sinh ngày 05/4/2019 hiện đang sống trực tiếp với chị N, cuộc sống của các cháu cũng đảm bảo, cháu Như ý có nguyện vọng sống chung với chị N. Chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T không có ý kiến gì về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Nên Hội đồng xét xử xét giao 02 con chung cho chị Nguyễn Thị Thuý N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Phạm Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp Điều 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thuý N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thuý N phải nộp 300.000đ án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và tại Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp theo quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thuý N. Xử cho chị N ly hôn với anh Phạm Minh T.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Phạm Như Y, sinh ngày 09/5/2014 và Phạm Như N, sinh ngày 05/4/2019 cho chị Nguyễn Thị Thuý N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Phạm Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thuý N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Thuý N phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn. Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) chị N đã nộp theo biên lai thu số 0011211 ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn. Chị N đã nộp đủ tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thúy An |
Bản án số 80/2024/HNGĐ-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 80/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Nguyễn Thị Thuý N và Phạm Minh T
