Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/HS-ST

Ngày 04/6/2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Tuyết .

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thiện Lợi;
  2. Bà Hoàng Thị Phụng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2024/HSST ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo: Đặng Thanh H, sinh ngày 28/02/1972; Nơi sinh: Tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Số nhà H, ngõ G, đường N, tổ H, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đặng Thanh H1 và bà Nguyễn Thị Đ; vợ: Lê Thị H2, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • Quyết định số 956/QĐ-UB ngày 18/12/2000 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục do nghiện ma túy và nhiều lần trộm cắp tài sản, thời hạn 24 tháng.
  • Quyết định số 3576/QĐ-UB năm 2003 của Ủy ban nhân dân tỉnh T về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục do trộm cắp tài sản, thời hạn 24 tháng.
  • Quyết định số 1511 ngày 05/5/2011 của Ủy ban nhân dân thành phố T áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động thành phố T, thời hạn 12 tháng.
  • Quyết định số 2852 ngày 07/12/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh T về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng.
  • Bản án số 66/HSST ngày 23/5/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 28/01/2007. Chấp hành xong hình phạt tù; chấp hành án phí hình sự sơ thẩm năm 2007.
  • Bản án số 66/HSST ngày 25/5/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 09 tháng tù về tội: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2010. Chấp hành xong hình phạt tù; chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và tiền nộp ngân sách nhà nước ngày 20/8/2015.
  • Bản án số 134/HSST ngày 08/9/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 03 năm tù về tội: Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2015. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/3/2018; chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 05/4/2016.

Bị tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 07/3/2024 chuyển tạm giam đến nay.

* Bị hại: Chị Phạm Thị B, sinh năm 1989, trú tại: Số nhà B, ngõ H, đường P, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

* Người chứng kiến: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1985, trú tại: Thôn H, xã X, huyện V, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo, vắng mặt những người tham gia tố tụng khác).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 04/3/2024, Đặng Thanh H đi từ nhà ở ra khu vực trước cổng Trường Đại học Y với mục đích tìm ai có tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng 10 giờ 50 phút cùng ngày, H đang đi bộ ở khu vực cổng Trường Đại học Y thuộc tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình thấy chị Phạm Thị B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Acruzo màu xanh, biển số đăng ký 17B3-218.56 đang dừng ở khu vực trước cổng trường để chờ sang đường. H liền đi bộ đến gần chỗ chị B đang dừng xe, quan sát từ phía sau thấy túi áo khoác ngoài bên trái của chị B đang mặc không kéo khóa bên trong túi áo khoác có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Plus, màu xanh trị giá 14.500.000 đồng. H liền đi đến gần chỗ chị B dùng tay phải thò vào trong túi áo khoác lấy chiếc điện thoại. Khi H vừa lấy được chiếc điện thoại và chuẩn bị rời đi thì bị tổ công tác Công an Thành phố Thái Bình phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Thanh T, H đã tự giác giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Plus, màu xanh và khai đó là chiếc điện thoại H vừa trộm cắp của chị B.

Bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 06/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kêt luận: Trị giá tài sản chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 plus 128 GB tại thời điểm định giá ngày 04/3/2024 là 14.500.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi của mình như bản cáo trạng đã nêu.

Bản cáo trạng số 88/CT-VKSTPTB ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị: Xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/3/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Về vật chứng: Chấp nhận việc cơ quan Điều tra đã trả lại cho bị hại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 plus, màu xanh 128 GB, đã qua sử dụng.
  • Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản nào khác nên không đặt ra giải quyết.
  • Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không bào chữa và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, của người chứng kiến và được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang. Bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 06/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T. Lời khai của người bị hại, người chứng kiến. Các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 04/3/2024 tại khu vực trước cổng Trường Đại học Y thuộc tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Đặng Thanh H có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu nhãn hiệu Iphone 14 plus, màu xanh 128 GB, đã qua sử dụng trị giá 14.500.000 đồng của chị Phạm Thị B, sinh năm 1989, trú tại số nhà B, ngõ H, đường P, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, do vậy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm minh đối với bị cáo.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhưng là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị đưa vào cơ sở giáo dục, một lần bị đưa đi cai nghiện bắt buộc và nhiều lần bị Tòa án đưa ra xét xử. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, bố mẹ đẻ của bị cáo được nhà nước tặng thưởng huân chương. Các tình tiết này được giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có 02 tình tiết giảm nhẹ tuy nhiên bị cáo có nhân thân rất xấu, cần thiết phải xử phạt mức hình phạt nghiêm minh với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[6] Về vật chứng: Chấp nhận việc cơ quan Điều tra đã trả lại cho bị hại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 plus, màu xanh 128 GB, đã qua sử dụng.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản nào khác nên không đặt ra giải quyết.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ Điều 135; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Thanh H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/3/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản nào khác nên không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/6/2024). Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hợp lệ./

Nơi nhận:

  • Người tham gia tố tụng;
  • Tòa án ND tỉnh TB;
  • VKSND tỉnh Thái Bình;
  • VKSND TP Thái Bình;
  • Cơ quan CSĐT Công an TP Thái Bình;
  • Cơ quan THAHS Công an TP Thái Bình;
  • Chi cục THADS TP Thái Bình;
  • Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 80/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Thanh H phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger