TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 80/2023/HS-STNgày 03 tháng 11 năm 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Tuấn Vương
- Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Ánh Nguyệt - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thái Bình
- Bà Hoàng Thị Thu Hiền - Nguyên Phó Bí thư Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Thái Bình
- Ông Nguyễn Giang Thanh - Chánh Thanh tra Sở Xây dựng tỉnh Thái Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tiến Thành
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
- Ông Lê Bình Khánh – Kiểm sát viên
Trong ngày 03 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 05/TA ngày 26/10/2023 đối với:
1. Các bị cáo:
1.1. Nguyễn Thị T, sinh ngày 12/10/2001 (thời điểm phạm tội, bị cáo 17 năm 06 tháng 03 ngày tuổi); nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Đức D và bà Nguyễn Thị H; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị truy nã, ngày 13/12/2022 đầu thú và bị tạm giữ, ngày 22/12/2022 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; trích xuất có mặt.
3
1.2. Đặng Khánh H1, sinh ngày 03/8/2001 (thời điểm phạm tội, bị cáo 17 năm 08 tháng 12 ngày tuổi); nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đặng Văn T1 và bà Nguyễn Thị H2; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/4/2023 đến nay; trích xuất có mặt.
1.3. Nguyễn Thị H3, sinh ngày 21/3/2001; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Bá T2 và bà Nguyễn Thị H4; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/4/2023 đến nay; trích xuất có mặt.
1.4. Nguyễn Thị N, sinh ngày 24/8/2001 (thời điểm phạm tội, bị cáo 17 năm 07 tháng 22 ngày tuổi); nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn N1 và bà Ngô Thị T3; có chồng là Hoàng Văn T4 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
1.5. Vũ Thị N2, sinh ngày 07/7/2001 (thời điểm phạm tội, bị cáo 17 năm 09 tháng 08 ngày tuổi); nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Sinh viên; con ông Vũ Mạnh C và bà Nguyễn Thị Q; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Từ năm 2019 đến nay học Đại học tại Trường Đại học K. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
1.6. Lê Thị N3, sinh ngày 24/8/2001 (thời điểm phạm tội, bị cáo 17 năm 09 tháng 22 ngày tuổi); nơi thường trú: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi ở hiện nay: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Đức V và bà Lê Thị T5; có chồng là Nguyễn Thanh T6 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
2. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị T, Đặng Khánh H1, Nguyễn Thị N và Nguyễn Thị H3: Ông Phạm Hữu G - Luật sư Văn phòng luật sư Phạm Hữu L và cộng sự, Đoàn luật sư tỉnh T. Địa chỉ: Số C, đường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Luật sư chỉ định. (có mặt)
4
3. Bị hại: Chị Vũ Thị Thu H5, sinh ngày 25/10/2001; trú tại thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (có mặt)
4. Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Nhân Đ, sinh năm 2000; trú tại thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Công M, sinh năm 1997; trú tại thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Công V1, sinh năm 1997; trú tại thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)
- Anh Đào Minh T7, sinh năm 2000; trú tại thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)
- Anh Lê Công D1, sinh năm 1999; trú tại xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)
- Ông Trần Văn T8, sinh năm 1976; trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 15/4/2019, Nguyễn Thị H3 bị một nhóm người đánh tại khu vực cầu X, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Nguyễn Thị H3 nghi ngờ nhóm người đánh mình là nhóm của Vũ Thị Thu H5 (thường gọi là H5 tém), sinh ngày 25/10/2001, trú tại thôn C, xã T, huyện T. Chiều ngày 15/4/2019, Nguyễn Thị H3 đến nhà Nguyễn Thị T nhờ T đi đánh chị H3. T và Vũ Thị Thu H5 nhắn tin, gọi điện chửi nhau qua ứng dụng Facebook và hẹn gặp đánh nhau ở khu vực Bệnh viện Đ2, huyện T. Sau khi hẹn đánh nhau, T chụp ảnh màn hình điện thoại các tin nhắn đã nhắn nói chuyện với Vũ Thị Thu H5, đăng vào nhóm Facebook “Hội chị em” gồm các thành viên Đặng Khánh H1, Lê Thị N3, Nguyễn Thị N, Vũ Thị N2 và Đào Khánh V2, sinh năm 2001 trú tại xã T, huyện T tỉnh Thái Bình. Tin nhắn có nội dung về việc T đã hẹn đánh nhau với Vũ Thị Thu H5 ở khu vực Bệnh viện Đ2. Các thành viên trong nhóm “Hội chị em” tham gia nói chuyện qua ứng dụng Messenger về việc đi đánh chị H5. Trong quá trình nói chuyện qua ứng dụng Messenger, T không nói rõ việc rủ đi và đánh như thế nào nhưng tất cả các thành viên đều hiểu và nhất trí cùng đi đánh Vũ Thị Thu H5, riêng Đào Khánh V2 phải ở nhà trông cháu nên không đi. Khi nói chuyện trên nhóm “Hội chị em”, T nhắn “tí gặp bố mày xiên chết”, sau đó N nhắn “ok”,
5
Ngọc nhắn “thôi đừng quá”, N3 nhắn “Trang bình tĩnh”. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Thị H3 đi xe máy điện chở T từ nhà đi; N3 đi xe mô tô chở H1 và N đến nơi hẹn. Trên đường đi T nói với Nguyễn Thị H3 chở vào nhà ông ngoại T là ông Nguyễn Duy T9, sinh năm 1953, trú tại thôn B, xã D để lấy đồ và T nhắn tin lên nhóm “Hội chị em” nội dung “đợi tao lấy đồ” (mọi người đều hiểu lấy đồ là hung khí). T và Nguyễn Thị H3 vào trong nhà, còn N3, H1, N đứng đợi ở cổng. T vào trong phòng ngủ lấy ở đầu giường 01 con dao (loại dao gấp dài khoảng 20cm, cán nhựa, lưỡi dao bằng kim loại sắc nhọn) cất vào túi quần bên phải rồi cùng Nguyễn Thị H3 đi đến chỗ hẹn, H1, N3, N đi cùng đến khu vực cổng Bệnh viện Đ2 nhưng không thấy chị H3 đến. Cùng lúc này, N2 được Lê Công D1 đi xe mô tô chở đến. T lấy điện thoại gọi điện qua M1 cho Vũ Thị Thu H5 nói T đã đến nơi, Vũ Thị Thu H5 nói bị say không đến và bảo T đến nhà H5 ở khu vực chợ C1, xã T. Cả nhóm tiếp tục đi đến khu vực cổng chợ C1 thì dừng lại, T tiếp tục gọi điện cho Vũ Thị Thu H5 nói T đã đến sau đó T nói với mọi người trong nhóm “ai biết nhà thì đi vào gọi nó ra”. H1 nói biết và bảo N2 cùng đi vào gọi. Đến cổng nhà Vũ Thị Thu H5 thì N2 gọi H5 ơi, biết nhóm T đến Vũ Thị Thu H5 đi vào trong bếp cầm theo 01 con dao (loại dao gọt hoa quả dài khoảng 20cm, cán gỗ, đầu bằng, lưỡi kim loại rộng khoảng 5cm) đi cùng N2 và H1 ra ngoài. Tại khu vực chợ C1, xã T và Vũ Thị Thu H5 cãi chửi nhau, T nói: “mày vứt dao ra tạo với mày sô lô 1-1”, Vũ Thị Thu H5 vứt dao xuống đất nhưng T không vứt dao mà vẫn để trong người. T và Vũ Thị Thu H5 lao vào dùng tay chân đánh nhau. Vũ Thị Thu H5 túm tóc T lôi giật mạnh làm T ngã xuống bờ cỏ cạnh đường ở tư thế nằm ngửa và Vũ Thị Thu H5 ngồi đè lên người T, dùng tay túm tóc, đấm, tát vào mặt T. Thấy T bị yếu thế, H1, N xông vào túm giật tóc, đấm và dùng chân đá vào người Vũ Thị Thu H5. N túm tóc lôi Vũ Thị Thu H5 ra và đấm hai phát vào tay trái H5; H1 dùng chân đạp liên tiếp vào phía bên trái làm Vũ Thị Thu H5 ngã sang phải, lúc này T vùng dậy được lấy dao ở túi quần bên phải bật lưỡi dao ra, Vũ Thị Thu H5 đang nhổm người lên ở tư thế cúi khom và đang bị H1, N túm áo, giật tóc, T đứng đối diện tay phải cầm dao đâm hướng từ sau ra trước, chiều từ dưới lên trên vào bụng chị H5 một nhát. H1, N tiếp tục lao vào đánh,T tiếp tục dùng dao đâm nhiều nhát vào vùng tay và vùng đùi Vũ Thị Thu H5, trong đó đâm nhầm 01 nhát vào đùi của H1, H1 kêu lên “mày đâm nhầm vào chân tao rồi”. Cùng lúc này ông Trần Văn T8 vào can ngăn nên tất cả dừng lại. Nguyễn Thị H3 chở T; N3 chở H1 và N bỏ đi rồi tất cả nhắn tin trên nhóm “Hội chị em” bàn cách khai báo với cơ quan điều tra, thống
6
nhất nội dung chỉ một mình T đánh Vũ Thị Thu H5 còn H1 và N đi qua đường đứng xem, sau đó T bỏ trốn khỏi địa phương. Vũ Thị Thu H5 được anh Nguyễn Nhân Đ chở đến Bệnh viện Đ2 sau đó chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh T cấp cứu và điều trị. Hậu quả: Vũ Thị Thu H5 bị thương bụng lòi tạng, đa vết thương chi thể được mổ cấp cứu kịp thời không ảnh hưởng đến tính mạng.
Bản kết luận giám định thương tích số 3276/C09-TT11 ngày 17/6/2019 của V3 Bộ C2 kết luận thương tích của Vũ Thị Thu H5: “Thủng hai lỗ đại tràng đã được làm hậu môn nhân tạo: 46%; Sẹo vết thương, sẹo mổ vùng hạ vị, sẹo dẫn lưu: 3%; Sẹo mặt sau-trong 2/3 trên cẳng tay phải: 2%; Sẹo mặt trong 1/3 giữa đùi phải: 01%; Sẹo mặt trong 1/3 dưới đùi phải: 01%; Sẹo mặt trước-trong 1/3 dưới đùi phải: 01%; Sẹo mặt trước 1/3 dưới đùi trái: 01%; Sẹo mặt ngoài dưới gối trái: 01%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Thị Thu H5 tại thời điểm giám định là 51%. Cơ chế hình thành dấu vết thương tích: các tổn thương trên cơ thể Vũ Thị Thu H5 do vật sắc hoặc sắc nhọn gây nên”.
Cáo trạng số 46/CT-VKSTB ngày 01 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình truy tố các bị cáo Nguyễn Thị T, Đặng Khánh H1, Nguyễn Thị N và Nguyễn Thị H3 về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Vũ Thị N2 và Lê Thị N3 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Ngày 28/9/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đã ra Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 02/2023/HSST-QĐ, đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình xem xét lại tội danh đã truy tố đối với bị cáo Vũ Thị N2 và Lê Thị N3. Cụ thể: Hồ sơ vụ án thể hiện các bị cáo Nguyễn Thị T, Đặng Khánh H1, Lê Thị N3, Nguyễn Thị N, Vũ Thị N2 và Đào Khánh V2 tham gia nói chuyện trong nhóm “Hội chị em” qua ứng dụng Messenger về việc đi đánh chị Vũ Thị Thu H5, T không nói rõ việc rủ đi và đánh như thế nào nhưng tất cả các thành viên đều hiểu và nhất trí cùng đi đánh Vũ Thị Thu H5. T nhắn “tí gặp bố mày xiên chết”, sau đó N nhắn “ok”, Ngọc nhắn “thôi đừng quá”, N3 nhắn “Trang bình tĩnh”. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Thị H3 đi xe máy điện chở T từ nhà đi, N3 đi xe mô tô chở H1 và N đến nơi hẹn. Trên đường đi T nói với Nguyễn Thị H3 chở vào nhà ông ngoại T (ông Nguyễn Duy T9) để lấy đồ và T nhắn tin lên nhóm “Hội chị em” nội dung “đợi tao lấy đồ” (mọi người đều hiểu lấy đồ là hung khí). T và Nguyễn Thị H3 vào trong nhà, còn N3, H1, N đứng đợi ở cổng. Khi các bị cáo đến chỗ hẹn, N2 được Lê Công D1 chở đến. Khi Vũ Thị Thu H5 nói bị say không đến và bảo đến nhà, cả nhóm tiếp tục đi đến nhà H5 ở
7
khu vực chợ C1, xã T. T nói với mọi người trong nhóm “ai biết nhà thì đi vào gọi nó ra”. H1 nói biết và bảo N2 cùng đi vào gọi. Đến cổng nhà Vũ Thị Thu H5 thì N2 gọi Vũ Thị Thu H5 ra. Quá trình H5 và T lao vào đánh nhau, mặc dù thấy H5 vứt dao xuống đất, còn T vẫn để dao trong người; khi H5 ngã xuống, T dùng dao đâm nhiều nhát vào người H5, nhưng các bị cáo (trong đó có bị cáo N2 và N3) cũng không có hành động gì ngăn chặn T đâm H5, chỉ đến khi ông Trần Văn T8 vào can ngăn thì tất cả mới dừng lại. Bị cáo N3 chở H1 và N bỏ đi, bị cáo N2 được D1 chở đi theo.
Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định, bị cáo N2 và N3 biết việc T mang theo hung khí, dự định sẽ đâm bị hại. Mặc dù các bị cáo này có lời nói can ngăn T trên nhóm "Hội chị em" nhưng khi T về nhà lấy hung khí, N2 và N3 biết nhưng không can ngăn, khuyên bảo, tiếp tục đi theo. Bị cáo N2 còn là người trực tiếp vào gọi bị hại ra đánh nhau với T. Quá trình đánh nhau, các bị cáo biết bị hại đã vứt dao xuống, T vẫn giấu dao trong người, sau đó chứng kiến một mình Vũ Thị Thu H5 một mình chống lại T, H1 và N, chứng kiến T nhiều lần dùng dao đâm nhiều nhát vào bị hại, nhận thức được việc có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại nhưng bị cáo N2 và N3 không có ý thức can ngăn, điều này thể hiện sự tiếp nhận ý chí của bị cáo N2 và N3 với hành vi của các bị cáo còn lại. Khi bị hại bị thương cũng không có bị cáo nào đưa bị hại đi cấp cứu mà bỏ về, thể hiện ý thức để mặc hậu quả xảy ra. Sau đó, các bị cáo N2 và N3 còn cùng các bị cáo còn lại nhắn tin trên nhóm "Hội chị em" bàn cách khai báo với cơ quan điều tra. Do đó, hành vi của bị cáo Vũ Thị N2 và Lê Thị N3 đủ yếu tố cấu thành tội "Giết người" trong vai trò đồng phạm với các bị cáo Nguyễn Thị T, Đặng Khánh H1, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H3.
Tại Công văn số 01/CV-VKSTB ngày 02/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình trả lời: Trước khi vụ án xảy ra, bị cáo Nguyễn Thị T nhắn tin trong nhóm Hội chị em nói chuyện về việc mâu thuẫn với Vũ Thị Thu H5 và nói đi đánh H5, tuy T không rủ mọi người cùng đi đánh nhưng tất cả những người trong nhóm đều hiểu cùng nhất trí đi với T. Trong quá trình nói chuyện trên nhóm, các bị cáo N2 và N3 đã khuyên can T, Ngọc nhắn “thôi đừng quá”; Nhuyên nhắn “T bình tĩnh”. Điều đó thể hiện bị cáo N2, N3 đã can ngăn và không có ý thức tước đoạt tính mạng của bị hại là chị Vũ Thị Thu H5. Thời điểm T đến nhà ông ngoại T lấy dao thì N2 và N3 đều không biết vì T giấu dao vào túi quần, không nói đã lấy được dao (kết quả điều tra đã chứng minh khi T lấy dao, N3 cùng H1, N đúng ở cổng nhà ông ngoại T, không nhìn thấy T mang
8
theo dao, còn N2 đang uống nước cùng anh Lê Công D1 ở địa điểm khác, không biết T mang theo dao). Tại hiện trường vụ án, T và bị hại H5 cãi chửi nhau, T nói “mày vứt dao ra tao với mày sô lô 1-1” H5 vứt dao xuống đất, T và H5 lao vào đánh nhau, T bị ngã được H1, Nga giúp đánh bị hại. Các bị cáo N2, N3 không có bât kỳ hành động hay lời nói gì tác động đến bị hại, không kích động, xúi dục, cô vũ, khích lệ các bị cáo khác. Các bị cáo Vũ Thị N2, Lê Thị N3 không tham gia đánh Vũ Thị Thu H5 nhưng trước đó cả nhóm đã nói chuyện qua ứng dụng Facebook về việc đi đánh và nhất trí tham gia nhóm đi đánh H5. Việc T dùng dao đâm bị hại là hành vi vượt quá của người thực hành trong vụ án có đồng phạm. Không có căn cứ để buộc các bị cáo N2, N3 thống nhất ý chí với bị cáo T về việc dùng dao đánh nhau với bị hại và kích động, củng cố tinh thần cho các bị cáo khác đánh bị hại. Do đó hành vi của các bị cáo N2, N3 đã phạm vào tội cố ý gây thương tích quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và chuyển lại hồ sơ cho Tòa án để xét xử.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị T, Đặng Khánh H1, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H3, Vũ Thị N2 và Lê Thị N3. Đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về hình phạt:
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 15, Điều 57, Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 90; khoản 1 Điều 101 và Điều 102 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T mức án 06 năm đến 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2022.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 15, Điều 57, Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 90; khoản 1 Điều 101, Điều 102 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Khánh H1 mức án 03 năm đến 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2023.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 15, Điều 57, Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 90; khoản 1 Điều 101, Điều 102 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N mức án 03 năm đến 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 15, Điều 57, Điều 17; Điều 58; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H3 mức án 06 năm đến 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
9
11/4/2023.
- Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65; Điều 50; Điều 90, khoản 1 Điều 101, Điều 102 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Thị N2 mức án 09 tháng đến 01 năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 03/11/2023.
- Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65; Điều 50; Điều 90, khoản 1 Điều 101, Điều 102 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị N3 mức án 09 tháng đến 01 năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 03/11/2023.
* Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của các bị cáo H1 và N đối với bị hại chị Vũ Thị Thu H5, bị hại không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết. Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của các bị cáo T và H5 cho chị Vũ Thị Thu H5 số tiền 30.000.000 đồng.
* Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn tóc màu đen gồm nhiều sợi tóc được buộc cố định với nhau. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động iPhone 8 Plus (quản lý của bị cáo Lê Thị N3).
* Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ông Phạm Hữu G - Người bào chữa cho bị cáo T, H1, N và H5 trình bày tranh luận: Các bị cáo thành khẩn khai báo, đã gửi lời xin lỗi đến bị hại, đã tích cực bồi thường thiệt hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đề nghị HĐXX cho các bị cáo mức án thấp nhất.
* Bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm.
Nói lời sau cùng, các bị cáo thấy ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội; bị cáo N2 và N3 đề nghị xem xét cho các bị cáo này được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi,
10
quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, Luật sư Ngô Duy Đ1 (người bào chữa cho bị cáo Đặng Khánh H1 và Nguyễn Thị H3) vắng mặt, tuy nhiên, các bị cáo H1 và H3 từ chối để Luật sư Đ1 bào chữa và đồng ý để Luật sư Phạm Hữu G bào chữa cho các bị cáo. Những người làm chứng đều vắng mặt không có lý do chính đáng, tuy nhiên họ đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Do đó, căn cứ vào Điều 291 và 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
[2.1] Tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn toàn bộ hành vi của mình. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với Đơn trình báo của chị Vũ Thị Thu H5 đề ngày 24/4/2019 và Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập hồi 13 giờ 30 phút ngày 24/9/2019; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản xác định hiện trường, bản ảnh hiện trường; Bản sao Bệnh án của Bệnh viện đa khoa tỉnh T đối với Vũ Thị Thu H5; Bản kết luận giám định thương tích số 3276/C09-TT11 ngày 17/6/2019 của V3 Bộ C2; Đơn xin đầu thú của Nguyễn Thị T ngày 13/12/2022 và biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; Biên bản kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 Plus của Lê Thị N3; Biên bản về việc giải thích từ ngữ viết tắt, viết sai chính tả trong nội dung tin nhắn thu được của nhóm Hội chị em do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập; lời khai của bị hại, những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở để kết luận: Do nghi ngờ chị Vũ Thị Thu H5 đánh mình trước đó nên chiều ngày 15/4/2019, Nguyễn Thị H3 nhờ Nguyễn Thị T đi đánh chị H3. T đồng ý và sử dụng ứng dụng Facebook, nhắn tin trong nhóm “Hội chị em” gồm có Đặng Khánh H1, Nguyễn Thị N, Vũ Thị N2, Lê Thị N3 với nội dung T đã hẹn đánh Vũ Thị Thu H5, tất cả các bị cáo đều nhất trí đi cùng. Trên đường đi tìm đánh Vũ Thị Thu H5, T đã vào nhà ông Nguyễn Duy T9 (ông ngoại T) lấy 01 con dao mang theo (loại dao gấp dài khoảng 20cm, cán nhựa, lưỡi dao bằng kim loại sắc nhọn) mang theo. Khoảng 21 giờ cùng ngày, H1 và N2 vào nhà gọi chị H5 ra khu vực chợ C1, xã T, huyện T. Tại đây, T và Vũ Thị Thu H5 xông vào đánh nhau, sau đó H1 và N cùng xông vào đánh Vũ Thị Thu H5; T sử dụng con dao mang theo đâm nhiều nhát vào bụng, đùi trái, đùi phải của chị H5. N2, N3, Nguyễn Thị H3 đứng xem không tham gia đánh,
11
khi có người can ngăn, các bị cáo mới dừng lại và bỏ đi. Vũ Thị Thu H5 bị nhiều vết thương, bị thương bụng lòi tạng, thủng đại tràng hai lỗ và đa chấn thương phần mềm các chi, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 51%. Do được mổ cấp cứu kịp thời không ảnh hưởng đến tính mạng.
Hành vi trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo mặc dù không có mâu thuẫn với Vũ Thị Thu H5 nhưng Nguyễn Thị T, Đặng Khánh H1, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H3 đã cùng nhau tìm chị H3 để đánh, trong đó bị cáo T dùng dao là hung khí nguy hiểm, đâm vào vị trí trọng yếu trên cơ thể chị H3 gây thương tích 51%. Chị H3 được đưa đi cấp cứu kịp thời nên không ảnh hưởng đến tính mạng. Bản thân các bị cáo nhận thức được tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý phạm tội, chỉ đến khi có người can ngăn thì các bị cáo mới dừng lại. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T, Đặng Khánh H1, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị hại chưa chết do được đưa đi cấp cứu kịp thời nên hành vi của các bị cáo này thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.
Điều 123 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
...
n) Có tính chất côn đồ;
...”
Tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Thị N2, Lê Thị N3 thừa nhận có tham gia nhóm đánh chị H3 nhưng không trực tiếp đánh Vũ Thị Thu H5. Mặc dù trước đó cả nhóm đã nói chuyện qua ứng dụng Facebook về việc đi đánh và nhất trí tham gia nhóm của T đi đánh Vũ Thị Thu H5 nhưng N2 và N3 đều có lời nói can ngăn T, không muốn tước đoạt tính mạng của bị hại. Vì vậy, Cáo trạng xác định hành vi của bị cáo N2, N3 phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
12
...
6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”
[2.2] Đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy: Bị cáo T là người tiếp nhận thông tin từ bị cáo H5, rủ thêm các bị cáo còn lại đi đánh nhau, chuẩn bị dao và trực tiếp sử dụng dao đâm nhiều nhát vào bị hại, do đó bị cáo T giữ vai trò cao nhất trong vụ án. Bị cáo H5 là người khởi xướng việc đánh bị hại và cùng T vào nhà ông ngoại T lấy dao, H5 là người xúi giục, chứng kiến việc T dùng dao đâm nhiều nhát vào bị hại nhưng không có hành vi can ngăn, là người chở T rời khỏi hiện trường, do đó giữ vai trò thứ hai. Các bị cáo H1, N có hành vi dùng chân, tay đánh bị hại, mặc dù thấy bị cáo T dùng dao đâm bị hại nhưng không can ngăn nên giữ vai trò thứ ba. Bị cáo N2 và N3 không tham gia đánh nhau nhưng vẫn cùng tham gia nhóm đi đánh bị hại nên chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự.
[2.3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy:
Các bị cáo không phải chịu tỉnh tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại và đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H1, N thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị H3 thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo N2, N3 thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo được được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng đối với bị cáo N3 đang mang thai nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi các bị cáo gây ra, cần
13
xử phạt các bị cáo H3, H3, H1, và N mức hình phạt tương xứng, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ cải tạo, giáo dục các bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng chống, phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên, khi phạm tội các bị cáo T, H1, N chưa đủ 18 tuổi, hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên cần áp dụng các quy định tại các Điều 90, 91, 101 và 102 Bộ luật hình sự, cho 03 bị cáo này được hưởng mức hình phạt nhẹ hơn mức áp dụng đối với bị cáo H3 để các bị cáo này thấy được sự khoan hồng của pháp luật, giúp các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo N2 và N3 có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Đối chiếu với quy định tại Bộ luật hình sự và Điều 2 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, bị cáo N2 và N3 đủ điều kiện để có thể được xem xét cho hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy việc cho bị cáo N2 và N3 được hưởng án treo cũng là đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Chị Vũ Thị Thu H5 đã tự thoả thuận với các bị cáo N, H1 về số tiền bồi thường và không yêu cầu bị cáo N, H1 bồi thường thêm khoản gì khác, không đề nghị giải quyết tại phiên tòa nên không đặt ra giải quyết. Đối với bị cáo T và Nguyễn Thị H3, tại phiên tòa chị Vũ Thị Thu H5 đồng ý việc bị cáo T và H5 đã bồi thường tổng số tiền 30.000.000 đồng và không đề nghị bồi thường khoản tiền gì thêm. Xét thấy việc việc bồi thường này trên cơ sở các bên tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật nên Hội đồng xét xử công nhận.
[4] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 đoạn tóc màu đen gồm nhiều sợi tóc được buộc cố định với nhau không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động iPhone 8 Plus (quản lý của bị cáo Lê Thị N3) là phương tiện bị cáo sử dụng để trao đổi việc đi đánh bị hại nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
[5] Về các vấn đề khác:
- Đối với hành vi của bị hại Vũ Thị Thu H5 đánh nhau với bị cáo T nhưng không gây ra thương tích; bị cáo T không yêu cầu giám định, bồi thường. Hành vi này đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
- Đối với hành vi của bị cáo T dùng dao đâm vào chân bị cáo H1: Do bị
14
cáo H1 từ chối giám định, không đề nghị xử lý, không yêu cầu bồi thường nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với Đào Khánh V2, khi đọc được tin nhắn trên nhóm “Hội chị em” về việc T rủ đi đánh nhau, V2 không đi nhưng đã nhắn tin vào nhóm nội dung: đừng đâm nó T ạ, chỉ đánh cho nó một trận thôi. Hành vi này đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
- Đối với những người có mặt tại hiện trường gồm các anh Nguyễn Nhân Đ, Nguyễn Công M, Nguyễn Công V1, Đào Minh T7 và anh Lê Công D1: Quá trình điều tra xác định các anh Đ, M, V1, T7, D1 không biết nhóm T bàn bạc đánh Vũ Thị Thu H5, không tham gia nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với con dao T lấy ở đầu giường nhà ông bà ngoại Nguyễn Duy T9, bà Chu Thị H6 ở thôn B, xã D, huyện T sử dụng dao đâm Vũ Thị Thu H5. Tài liệu điều tra xác định khi T đến lấy dao T không nói, ông bà không biết lấy dao đi đánh nhau vì vậy không có căn cứ để xử lý.
- Đối với con dao bị cáo T dùng để đâm chị H5 và con dao của chị H5 mang theo, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm được.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị T, Đặng Khánh H1, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H3 phạm tội “Giết người”; các bị cáo Vũ Thị N2, Lê Thị N3 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 15; Điều 50; Điều 90; Điều 91; Điều 101 và Điều 102 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T mức án 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2022.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 15; Điều 50 và Điều 57 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H3 mức án 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2023.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 15; Điều 50; Điều 90; Điều 91; Điều 101 và
Điều 102 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Khánh H1 mức án 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2023.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 15; Điều 50; Điều 90; Điều 91; Điều 101 và Điều 102 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N mức án 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
- Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 90; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Thị N2 mức án 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 03/11/2023.
- Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 90; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị N3 mức án 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 03/11/2023.
Giao bị cáo Vũ Thị N2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Giao bị cáo Lê Thị N3 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo Vũ Thị N2 và Lê Thị N3 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Vũ Thị N2 và Lê Thị N3 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 3 và Điều 584 Bộ luật dân sự
Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của các bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Thị H3 cho chị Vũ Thị Thu H5 số tiền 30.000.000 đồng. Chị H5 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào thêm.
Chuyển số tiền 20.000.000 đồng ông Nguyễn Đức D (bố bị cáo Nguyễn Thị T) đã nộp tại Biên lai số 0002432 ngày 09/6/2023 và số tiền 10.000.000 đồng bà Nguyễn Thị H4 (mẹ bị cáo Nguyễn Thị H3) đã nộp tại Biên lai số 0000009 ngày 25/10/2023 sang thành tiền bồi thường và trả cho chị Vũ Thị Thu H5, sinh năm 2001; trú tại thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ
luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn tóc màu đen gồm nhiều sợi tóc được buộc cố định với nhau. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động iPhone 8 Plus (quản lý của bị cáo Lê Thị N3).
Các vật chứng trên có đặc điểm cụ thể tại Biên bản giao nhận, bảo quản tang vật, tài sản thi hành án ngày 02/8/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Các bị cáo Nguyễn Thị T, Đặng Khánh H1, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H3, Vũ Thị N2 và Lê Thị N3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 03/11/2023.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Tuấn Vương |
Bản án số 80/2023/HS-ST ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về vụ án hình sự sơ thẩm về tội giết người và cố ý gây thương tích
- Số bản án: 80/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Giết người và Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Trang và đp - Giết người
