|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 80/2024/HS-ST Ngày: 02-08-2024. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Văn Hiệu.
- Bà Võ Thanh Nga.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn là Thư ký Toà án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Luân - Kiểm sát viên
Ngày 02 tháng 08 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 92/TLST-HS ngày 04 tháng 07 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 220/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 07 năm 2024 đối với:
- Các bị cáo:
1/ Lại Trọng Thái H; sinh ngày 25 tháng 09 năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: A B, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Trọng H1 và bà Lại Thị Thắng N, sống chung như vợ chồng với Lâm Ngọc N1 và có một người con sinh năm 2022; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bắt tạm giam ngày 17/07/2023 “có mặt”.
2/ Dương Thị Bé N2; sinh ngày 23 tháng 05 năm 1996 tại Kiên Giang; hộ khẩu thường trú: Tổ A, Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: A Cư xá P, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Minh T và bà Huỳnh Thị Kim L, có chồng tên Dai Zhi Y và có một người con sinh năm 2020; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bắt tạm giam ngày 17/07/2023 “có mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1957 “vắng mặt”.
Địa chỉ: G Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Ông Nguyễn Thế H2, sinh năm 1954 “vắng mặt”.
Địa chỉ: G Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
3/ Bà Phan Thị Mai T2, sinh năm 2002 “vắng mặt”.
Hộ khẩu thường trú: A3/16, Tổ A, Ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: H P, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
4/ Ông Khưu Q, sinh năm 1999 “vắng mặt”.
Địa chỉ: H P, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
5/ Ông Trần Minh Q1, sinh năm 2003 “vắng mặt”.
Địa chỉ: 1 Â, Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
6/ Ông Nguyễn Song N3, sinh năm 2004 “vắng mặt”.
Hộ khẩu thường trú: 6 Hậu Giang, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 2 A, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
7/ Bà Lê Thị Kim C, sinh năm 1999 “vắng mặt”.
Địa chỉ: A L, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
8/ Ông Nguyễn Hoàng T3, sinh năm 2002 “vắng mặt”.
Địa chỉ: A L, Phường F, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
9/ Bà Cao Huỳnh Thủy T4, sinh năm 1998 “vắng mặt”.
Địa chỉ: B Ter Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào tối ngày 15/07/2023, Lê Trần Minh C1, Nguyễn Song N3, Nguyễn Hoàng T3, Khưu Q, Phan Thị Mai T2, Dương Thị Bé N2 và đối tượng tên B (không rõ nhân thân lai lịch) cùng uống rượu bia tại quán G trên địa bàn Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong lúc nhậu, Lê Trần Minh C1 rủ cả nhóm thuê căn hộ và mua ma túy để sử dụng chung thì được tất cả đồng ý. Để thực hiện ý định, Lê Trần Minh C1 liên lạc qua điện thoại với Lại Trọng Thái H để nhờ đặt thuê căn hộ. Lại Trọng Thái Hòa liên lạc qua điện thoại với người phụ nữ tên D (không rõ nhân thân lai lịch) để thuê căn hộ C Chung cư T tại số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 2.500.000 đồng/12 tiếng đồng hồ. Lại Trọng Thái H báo lại cho Lê Trần Minh C1 biết giá thuê căn hộ là 3.000.000 đồng/12 tiếng đồng hồ để hưởng chênh lệch 500.000 đồng thì được Lê Trần Minh C1 đồng ý. Sau đó, Lê Trần Minh C1, Nguyễn Song N3, Nguyễn Hoàng T3, Khưu Q, Phan Thị Mai T2, Dương Thị Bé N2 và đối tượng tên B cùng nhau đến Chung cư T thì được Lại Trọng Thái H dẫn lên căn hộ 30.08. Một lúc sau, Trần Minh Q1 là bạn của Lê Trần Minh C1 đến căn hộ trên để chơi. Tại đây, Lại Trọng Thái H đã liên lạc với đối tượng bán ma túy tên Nguyễn Minh H3 qua số điện thoại 0776.895.xxx đặt mua 01 hộp 10 gam ma túy khay và 05 viên thuốc lắc để cả nhóm sử dụng chung và hứa sẽ trả tiền sau. Đồng thời, Lại Trọng Thái H cũng đặt mua riêng cho bản thân 02 hộp 10 gam ma túy khay và nhờ Nguyễn Minh H3 để chung với 05 viên thuốc lắc đã mua trước đó rồi mang đến giao tại căn hộ C Chung cư T tại số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi nhận được ma túy, Lại Trọng Thái H đã lấy ra 01 hộp 10 gam ma túy khay và 05 viên thuốc lắc để cả nhóm sử dụng chung. Còn bản thân Lại Trọng Thái H thì đi uống rượu cùng với một số bạn bè khác tại đường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Một lúc sau, Lại Trọng Thái H quay về căn hộ C rồi cùng sử dụng ma túy chung với Lê Trần Minh C1, Nguyễn Song N3, Nguyễn Hoàng T3, Khưu Q, Phan Thị Mai T2, Dương Thị Bé N2, Trần Minh Q1 và đối tượng tên B.
Đến 04 giờ 00 phút ngày 16/07/2023, cả nhóm đã sử dụng hết 01 hộp 10 gam ma túy khay và 05 viên thuốc lắc. Thấy vậy, Lại Trọng Thái H đặt mua thêm của Nguyễn Minh H3 01 hộp 10 gam ma túy khay và 05 viên thuốc lắc để cả nhóm tiếp tục sử dụng. Đến 19 giờ cùng ngày, Lê Trần Minh C1, Trần Minh Q1 và đối tượng tên B ra về trước. Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 16/07/2023, Lại Trọng Thái H tiếp tục nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên đã rủ Nguyễn Song N3, Nguyễn Hoàng T3, Khưu Q, Phan Thị Mai T2, Dương Thị Bé N2 cùng sử dụng ma túy. Do tất cả đều đồng ý nên Lại Trọng Thái H lấy số ma túy đã mua trước đó ra cho mọi người cùng nhau sử dụng. Trong lúc sử dụng ma túy, Dương Thị Bé N2 nhắn tin rủ thêm bạn là Lê Thị Kim C đến căn hộ C để cùng sử dụng ma túy chung. Lê Thị Kim C đồng ý rồi đến Chung cư T tại số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh thì được Dương Thị Bé N2 dẫn lên căn hộ 30.08. Tại đây, Lê Thị Kim C đã tham gia sử dụng ma túy chung với Nguyễn Song N3, Nguyễn Hoàng T3, Khưu Q, Phan Thị Mai T2, Dương Thị Bé N2 và Lại Trọng Thái H.
Đến 04 giờ 30 phút ngày 17/07/2023, Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra hành chính căn hộ C Chung cư T tại số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện bên trong có Lê Thị Kim C, Nguyễn Song N3, Nguyễn Hoàng T3, Khưu Q, Phan Thị Mai T2, Dương Thị Bé N2 và Lại Trọng Thái H đang cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, Cơ quan Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện: Tại sàn gỗ phòng ngủ thứ hai có 01 gói nylon chứa chất bột màu xám; Tại kệ gỗ phía dưới bên trái có 01 gói nylon bên trong có: 01 gói nylon chứa các mảnh vụn viên nén màu xám, 04 gói nylon chứa tinh thể màu trắng; 01 cân điện tử; Phía trên kệ gỗ có: 01 ít chất bột màu xám, 01 dĩa thủy tinh, 01 thẻ nhựa màu trắng, 01 thẻ nhựa màu vàng, 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn, 01 loa hiệu Harman/Kardon; Tại sàn chỗ góc tường có 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng; Trên kệ gỗ có 02 đèn chiếu. Do đó, Cơ quan Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh đã lập biên bản phạm tội quả tang, tiến hành thu giữ vật chứng và đưa tất cả về trụ sở làm rõ. Qua kết quả xét nghiệm, Lê Thị Kim C, Nguyễn Song N3, Nguyễn Hoàng T3, Khưu Q, Phan Thị Mai T2, Dương Thị Bé N2 và Lại Trọng Thái H đều dương tính với ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 7821/KL-KTHS ngày 24/07/2023 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận:
- Gói 1: Bột màu xám được ký hiệu mẫu m₁ cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,6527g (không phẩy sáu năm hai bảy gam), loại MDMA.
- Gói 2:
- + Các mảnh vụn viên nén màu xám được ký hiệu mẫu m₂ cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng là 2,0622g (hai phẩy không sáu hai hai gam), loại MDMA.
- + Tinh thể màu trắng được ký hiệu mẫu m₃ cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng là 17,1559g (một bảy phẩy một năm năm chín gam), loại Ketamine.
- Gói 3: Bột màu xám được ký hiệu mẫu m₄ cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0383g (không phẩy không ba tám ba gam), loại Ketamine.
- Gói 4: Tinh thể màu trắng được ký hiệu mẫu m₅ cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,0821g (hai phẩy không tám hai một gam), loại Ketamine.
- Gói 5: Bụi màu trắng được ký hiệu mẫu m₆ cần giám định không xác định được khối lượng, tìm thấy Ketamine ở dạng vết.
Tại Cáo trạng số 39/CT-VKSQ4 ngày 10/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lại Trọng Thái H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a, điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Dương Thị Bé N2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo Lại Trọng Thái H và Dương Thị Bé N2 đều thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và xin được giảm nhẹ một phần hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lại Trọng Thái H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a, điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Dương Thị Bé N2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị mức hình phạt: Đối với bị cáo Lại Trọng Thái H từ 08 năm đến 09 năm tù giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là từ 13 năm 06 tháng đến 15 năm tù giam. Đối với bị cáo Dương Thị Bé N2 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù giam. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy 05 (năm) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lại Trọng Thái H, Nguyễn Quang T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A77S, màu đen, số Imei: 866941069186334, đã qua sử dụng; Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi nylon bên trong chứa quần áo do Lại Trọng Thái H sử dụng làm phương tiện phạm tội; Tiếp tục đăng báo trong thời hạn 03 tháng để tìm chủ sở hữu đối với 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Vario 125 (dán decal C2), màu xám đen, biển số 59X1-931.12, số máy: JFV1E1884269, số khung: MH1JFV110JK878776, đã qua sử dụng, nếu không ai đến nhận thì trả lại cho Lại Trọng Thái H; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu trắng, mặt sau bị vỡ nát kính, số Imei: 357447888089804, đã qua sử dụng; Trả lại Lê Thị Kim C 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu đen, số I: 350089115111014, đã qua sử dụng; Giao trả cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ trong vụ Lê Trần Minh C1 đang bị truy nã về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối với các vật chứng sau đây: 01 (một) túi nylon không chứa gì, đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa màu vàng; 01 (một) loa hiệu Harman/Kardon; 01 (một) đèn chiếu màu trắng; 01 (một) đèn chiếu màu đen; 01 (một) cân điện tử; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh, số I: 358863668545147, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, số I: 352848110277700; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, số Imei1: 352851112037494, số I: 352851112035101, mặt kính sau vỡ nát, ốp lưng sọc trắng đen, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, số I: 351732276164327; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu hồng, số Imei: 354386068391353, đã qua sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai của các bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của các bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định có đủ cơ sở để kết luận:
Vào ngày 15/07/2023, tại căn hộ C Chung cư T tại số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, Lại Trọng Thái H có hành vi thuê căn hộ, cung cấp địa điểm, 03 lần cung cấp ma túy cho Lê Trần Minh C1, Nguyễn Hoàng T3, Nguyễn Song N3, Khưu Q, Phan Thị Mai T2, Trần Minh Q1, Dương Thị Bé N2 và Lê Thị Kim C sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời, Lại Trọng Thái H còn cất giữ tổng cộng 2,7149 gam ma túy loại MDMA và 19,2763 gam ma túy loại Ketamine nhằm mục đích sử dụng. Căn cứ điểm b khoản 2, điểm a điểm b khoản 3 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 thì tất cả số ma túy trên chiếm tỷ lệ phần trăm về khối lượng là 26,3259% so với mức tối thiểu quy định tại khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lại Trọng Thái H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với Dương Thị Bé N2 đã có hành vi rủ rê Lê Thị Kim C đến căn hộ C Chung cư T tại số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng ma túy chung. Hành vi của bị cáo Dương Thị Bé N2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với Lê Trần Minh C1, quá trình điều tra đã bỏ trốn. Ngày 12/03/2024, Cơ quan Điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định truy nã số 431/QĐ-ĐCSMT và Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can số 983/QĐ-ĐCSMT ngày 15/03/2024 do không rõ hiện bị can đang ở đâu. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với Nguyễn Minh H3 là người do bị cáo Lại Trọng Thái H khai nhận đã liên lạc qua số điện thoại 0776.895.xxx để mua ma túy, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để xử lý. Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục xác minh truy xét, khi nào có kết quả sẽ đề xuất xử lý sau. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với đối tượng tên B, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để xử lý. Cơ quan Điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục xác minh truy xét, khi nào có kết quả sẽ đề xuất xử lý sau. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với Nguyễn Hoàng T3, Nguyễn Song N3 khai nhận có tham gia bàn bạc với Lê Trần Minh C1, Khưu Q về việc thuê căn hộ để sử dụng ma túy và mua ma túy để sử dụng chung. Tuy nhiên, Khưu Q không thừa nhận có tham gia bàn bạc gì với Nguyễn Hoàng T3, Nguyễn Song N3 mà chỉ được Lê Trần Minh C1 rủ đến căn hộ C để nhậu, không biết việc cả nhóm đến căn hộ trên để sử dụng ma túy, cũng không tham gia bàn bạc việc thuê căn hộ và mua ma túy. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Lại Trọng Thái H khai nhận không có bàn bạc gì về việc thuê căn hộ, mua ma túy để sử dụng chung với Nguyễn Hoàng T3, Nguyễn Song N3 và Khưu Q. Đối với Trần Minh Q1 là người được Khưu Q rủ đến căn hộ C Chung cư T tại số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh để nhậu. Khi Trần Minh Q1 đến thì nhìn thấy mọi người đang sử dụng ma túy nên đã tham gia cùng cả nhóm. Quá trình điều tra, Lại Trọng Thái H khai nhận Trần Minh Q1 là người nhờ H đặt mua ma túy để cả nhóm sử dụng. Tuy nhiên, sau khi tiến hành đối chất, Lại Trọng Thái H thay đổi lời khai cho rằng bị cáo nhìn thấy Trần Minh Q1 về trước nên đã cố tình đổ lỗi cho Trần Minh Q1.
Về vấn đề này, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 04/06/2024, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung yêu cầu làm rõ vai trò của Trần Minh Q1, Nguyễn Hoàng T3, Nguyễn Song N3, Khưu Q trong vụ án. Ngày 04/07/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Công văn số 265/CV-VKS về việc điều tra bổ sung vụ án và giữ nguyên Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 10/04/2024.
Căn cứ khoản 2 Điều 277, Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về Giới hạn của việc xét xử, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với bị cáo Lại Trọng Thái H và Dương Thị Bé N2 theo tội danh đã truy tố.
Tại phiên tòa, bị cáo Lại Trọng Thái H xác định Lê Trần Minh C1 là người nhờ bị cáo thuê căn hộ và nhờ đặt mua ma túy cho cả nhóm sử dụng, chứ không liên quan gì đến Trần Minh Q1, Nguyễn Hoàng T3, Nguyễn Song N3 và Khưu Q. Xét, ngoài lời khai của Lại Trọng Thái H thì trong hồ sơ vụ án không có bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì chứng minh vai trò đồng phạm của Trần Minh Q1, Nguyễn Hoàng T3, Nguyễn Song N3, Khưu Q trong vụ án. Mặt khác, Lê Trần Minh C1 đã bỏ trốn nên Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh đang tiến hành truy nã, đồng thời ban hành Quyết định số 984/QĐ-ĐCSMT ngày 15/03/2024 về việc tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án đối với các đối tượng Nguyễn Hoàng T3, Nguyễn Song N3, Khưu Q, Phan Thị Mại T2, Lê Trần Minh C1, Lê Thị Kim C và đối tượng B (không rõ nhân thân lai lịch) để tiến hành xác minh truy bắt Lê Trần Minh C1 và điều tra xử lý sau. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với người phụ nữ tên D do bị cáo Lại Trọng Thái H khai nhận đã sử dụng số điện thoại 0936.417.xxx và số tài khoản 886823456789 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 (T8) để giao dịch cho thuê căn hộ C Chung cư T tại số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, quá trình điều tra xác định có tên là Trần Thị N4 và hiện nay không còn cư trú tại địa phương. Do đó, Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định truy tìm đối với Trần Thị N4 nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Ngày 15/03/2024, Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định tách hành vi của Trần Thị N4 để tiếp tục xác minh, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với căn hộ 30.08 Chung cư The Tresor tại số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, quá trình điều tra xác định do bà Hoàng Thị T1 là chủ sở hữu và đã ủy quyền cho chồng là ông Nguyễn Thế H2 quản lý căn hộ. Ngày 10/07/2023, ông Nguyễn Thế H2 ký kết hợp đồng thuê nhà với bà Cao Huỳnh Thủy T4 với giá 20.000.000 đồng/tháng, thời hạn thuê là 01 năm, tính từ ngày 14/07/2023 đến ngày 14/07/2024. Tại Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Cao Huỳnh Thủy T4 khai nhận bản thân bị mất giấy Chứng minh nhân dân và không ký kết hợp đồng thuê căn hộ trên với ông Nguyễn Thế H2. Xét thấy, ông Nguyễn Thế H2, bà Hoàng Thị T1 và bà Cao Huỳnh Thủy T4 không biết và không liên quan gì đến việc Lại Trọng Thái H thuê căn hộ C Chung cư T tại số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng làm nơi tổ chức sử dụng ma túy trái phép vào ngày 15/07/2023. Do đó, Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh không đề xuất xử lý.
Về vấn đề này, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại bút lục số 242 là Giấy báo Nợ/Có ngày 08/07/2023 có nội dung thể hiện bà Trần Thị N4 là người đã chuyển tiền đặt cọc thuê căn hộ 30.08 Chung cư T6 cho bà Hoàng Thị T1 với số tiền là 10.000.000 đồng. Tại bút lục số 243 là Giấy báo Nợ/Có ngày 10/07/2023 có nội dung thể hiện bà Trần Thị N4 chuyển tiền thanh toán cọc và tiền thuê nhà tháng 07 năm 2023 đối với căn hộ C cho bà Hoàng Thị T1 với số tiền là 50.000.000 đồng. Như vậy, có cơ sở khẳng định bà Hoàng Thị T1 đã nhận tiền thuê nhà từ bà Trần Thị N4, có nghĩa là đã xác lập giao dịch cho thuê căn hộ 30.08 Chung cư Tresor, số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh với bà Trần Thị N4. Còn việc bà Hoàng Thị T1, ông Nguyễn Thế H2 có biết và có liên quan gì đến việc bà Trần Thị N4 cho Lại Trọng Thái H thuê căn hộ để sử dụng ma túy hay không thì chưa được làm rõ trong quá trình điều tra vụ án. Do đó, Tòa án đã trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung về vấn đề. Kết quả điều tra bổ sung thể hiện bà Hoàng Thị T1, ông Nguyễn Thế H2 không nhận dạng được bà Trần Thị N4 qua bản ảnh. Hiện nay, bà Trần Thị N4 không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Thông báo truy tìm đối với Trần Thị N4, đồng thời trích tài liệu, hành vi liên quan đến bà Trần Thị N4 để tiếp tục xác minh, khi nào có kết quả sẽ đề xuất xử lý sau. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với Nguyễn Song N3, Khưu Q, Phan Thị Mai T2, Lê Thị Kim C có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh đã chuyển hồ sơ về địa phương để xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với các đối tượng trên. Riêng Nguyễn Hoàng T3 không có nơi cư trủ ổn định nên Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh đã lập hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
[3] Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Đây là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn khác, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Đây là vụ án có đồng phạm, trong đó Lại Trọng Thái H là chủ mưu và cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Còn Dương Thị Bé N2 là đồng phạm giúp sức trong việc tổ chức cho Lê Thị Kim C sử dụng trái phép chất ma túy. Các bị cáo đều ý thức được sự tác hại của ma túy cũng như quy định của pháp luật đối với các hành vi liên quan đến ma túy. Tuy nhiên, các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội vì để thỏa mãn nhu cầu của bản thân là thể hiện thái độ xem thường pháp luật nên cần áp dụng hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung tội phạm cho xã hội.
[4] Về nhân thân:
- Bị cáo Lại Trọng Thái H không có tiền án, không có tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo quanh co, không thành thật khai báo làm ảnh hưởng đến việc điều tra truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như đề nghị của Kiểm sát viên.
- Bị cáo Dương Thị Bé N2 không có tiền án, không có tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Thu giữ của Lại Trọng Thái H 04 (bốn) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lại Trọng Thái H, Nguyễn Quang T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định Xét, đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- Thu giữ của Lại Trọng Thái H 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lại Trọng Thái H, Nguyễn Quang T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong có 01 (một) đĩa thủy tinh, 01 (một) thẻ nhựa màu trắng, 01 (một) thẻ nhựa màu vàng, 01 (một) tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng. Xét, đây là công cụ để các bị cáo sử dụng ma túy được thu giữ tại căn hộ C Chung cư T, số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh và có liên quan đến hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của Lê Trần Minh C1 hiện đang bị truy nã. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cho Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều tra xác minh theo thẩm quyền.
- Thu giữ của Lại Trọng Thái H 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A77S, màu đen, số Imei: 866941069186334, đã qua sử dụng. Xét, đây là phương tiện do bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Thu giữ của Lại Trọng Thái H 01 (một) túi nylon bên trong chứa quần áo. Xét, đây là phương tiện do bị cáo sử dụng để ngụy trang cất giữ ma túy và không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
- Thu giữ của Lại Trọng Thái H 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Vario 125 (dán decal C2), màu xám đen, biển số 59X1-931.12, số máy: JFV1E1884269, số khung: MH1JFV110JK878776, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định xe gắn máy nêu trên do ông Trần Văn T7 đứng tên chủ sở hữu và không có mặt tại địa phương. Ngày 22/12/2023, Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Tại phiên tòa, Lại Trọng Thái H khai nhận đã mua xe gắn máy nêu trên của một người không rõ nhân thân lai lịch với giá 25.000.000 đồng. Việc mua bán không lập văn bản giấy tờ gì và cũng không trước bạ sang tên, do đó bị cáo không cung cấp được chứng cứ gì cho Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đăng báo tìm chủ sở hữu đối với 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Vario 125, màu xám đen, biển số 59X1-931.12, số máy: JFV1E1884269, số khung: MH1JFV110JK878776, đã qua sử dụng. Trong thời hạn 01 (một) năm kể từ ngày đăng báo, nếu không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước do là tài sản có nguồn gốc không rõ ràng.
- Thu giữ tại căn hộ C Chung cư T, số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm: 01 (một) túi nylon không chứa gì, đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa màu vàng; 01 (một) loa hiệu Harman/Kardon; 01 (một) đèn chiếu màu trắng; 01 (một) đèn chiếu màu đen; 01 (một) cân điện tử. Xét, đây là vật chứng được thu giữ tại căn hộ C Chung cư T, số C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh liên quan đến hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của Lê Trần Minh C1 hiện đang bị truy nã. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cho Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều tra xác minh theo thẩm quyền.
- Thu giữ của Trần Minh Q1 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh, số I: 358863668545147, đã qua sử dụng. Xét, đây là vật chứng liên quan đến hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của Lê Trần Minh C1 hiện đang bị truy nã. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cho Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều tra xác minh theo thẩm quyền.
- Thu giữ của Dương Thị Bé N2 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu trắng, mặt sau bị vỡ nát kính, số Imei: 357447888089804, đã qua sử dụng. Xét, đây là công cụ do bị cáo sử dụng để liên lạc rủ Lê Thị Kim C đến sử dụng ma túy nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Thu giữ của Khưu Quầy 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, số I: 352848110277700. Xét, Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh đã tách hành vi của Khưu Q để tiếp tục điều tra xác minh vai trò đồng phạm với Lê Trần Minh C1 đang bị truy nã về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cho Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều tra xác minh theo thẩm quyền.
- Thu giữ của Nguyễn Hoàng T3 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, số Imeil: 352851112037494, số I: 352851112035101, mặt kính sau vỡ nát, ốp lưng sọc trắng đen, đã qua sử dụng. Xét, Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh đã tách hành vi của Nguyễn Hoàng T3 để tiếp tục điều tra xác minh vai trò đồng phạm với Lê Trần Minh C1 đang bị truy nã về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cho Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều tra xác minh theo thẩm quyền.
- Thu giữ của Phan Thị Mai T2 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, số I: 351732276164327. Xét, Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh đã tách hành vi của Phan Thị Mai T2 để tiếp tục điều tra xác minh vai trò đồng phạm với Lê Trần Minh C1 đang bị truy nã về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cho Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều tra xác minh theo thẩm quyền.
- Thu giữ của Nguyễn Song N3 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu hồng, số Imei: 354386068391353, đã qua sử dụng. Xét, Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh đã tách hành vi của Nguyễn Song N3 để tiếp tục điều tra xác minh vai trò đồng phạm với Lê Trần Minh C1 đang bị truy nã về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cho Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều tra xác minh theo thẩm quyền.
- Thu giữ của Lê Thị Kim C 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu đen, số Imei: 350089115111014, đã qua sử dụng. Xét, đây là tài sản cá nhân của Lê Thị Kim C nên trả lại.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2021; Luật phí và lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a, điểm b khoản 2 Điều 255, điểm n khoản 2 Điều 249, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Lại Trọng Thái Hòa, 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, bị cáo phải chấp hành là 14 (mười bốn) năm tù giam.
Thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 07 năm 2023.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Dương Thị Bé N2, 03 (ba) năm tù giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 07 năm 2023.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- Tịch thu tiêu hủy: 04 (bốn) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lại Trọng Thái H, Nguyễn Quang T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; 01 (một) túi nylon bên trong chứa quần áo.
- Giao cho Cơ quan điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều tra xác minh theo thẩm quyền đối với các vật chứng sau đây:
- + 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lại Trọng Thái H, Nguyễn Quang T5 (Điều tra viên) và hình dấu Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong có 01 (một) đĩa thủy tinh, 01 (một) thẻ nhựa màu trắng, 01 (một) thẻ nhựa màu vàng, 01 (một) tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng.
- + 01 (một) túi nylon không chứa gì, đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa màu vàng; 01 (một) loa hiệu Harman/Kardon; 01 (một) đèn chiếu màu trắng; 01 (một) đèn chiếu màu đen; 01 (một) cân điện tử; 01 (một) bật lửa màu vàng.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh, số I: 358863668545147, đã qua sử dụng.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, số I: 352848110277700.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, số Imeil: 352851112037494, số I: 352851112035101, mặt kính sau vỡ nát, ốp lưng sọc trắng đen, đã qua sử dụng.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng, số I: 351732276164327.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu hồng, số Imei: 354386068391353, đã qua sử dụng.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A77S, màu đen, số Imei: 866941069186334, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu trắng, mặt sau bị vỡ nát kính, số Imei: 357447888089804, đã qua sử dụng.
- Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu đối với 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Vario 125 (dán decal C2), màu xám đen, biển số 59X1-931.12, số máy: JFV1E1884269, số khung: MH1JFV110JK878776, đã qua sử dụng. Trong thời hạn 01 (một) năm kể từ ngày đăng báo, nếu xác định được chủ sở hữu thì trả lại. Trường hợp hết thời hạn 01 (một) năm kể từ ngày đăng báo mà không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Trả lại Lê Thị Kim C 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu đen, số Imei: 350089115111014, đã qua sử dụng.
(Vật chứng được tạm giữ theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 58/2024 ngày 14/05/2024 và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 104/2024 ngày 01/08/2024 giữa Công an Q2 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021; Luật phí và lệ phí:
- Bị cáo Lại Trọng Thái H nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Bị cáo Dương Thị Bé N2 nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021:
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Đoàn Thanh Trúc |
Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 80/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lai Thai Trong H
