Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Số: 80/2025/HSST

Ngày: 13.-6-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Đính

Bà Hồ Thị Xuân Thiều

-Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Vi – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Bồ Đức Trọng – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2025/HSST ngày 06 tháng 5 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2025/HSST-QĐ ngày 26/5/2025 đối với các bị cáo:

1. Đỗ Văn T, sinh năm 1972; tại Bình Phước; tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: Tổ B, khu phố A, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước; nơi ở hiện tại: Tổ B, khu phố A, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ T1, sinh năm 1928 (đã chết) và con bà Phạm Thị L, sinh năm 1936; vợ: Đặng Thị H, sinh năm 1977 (đã ly hôn); có 02 người con: Đỗ Hoàng L1, sinh năm 2001 và Đỗ Đăng K, sinh năm 2005; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Nguyễn Nhất A, sinh năm 1985; tại Bình Phước; tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1959 và con bà Nguyễn Hoàng T2, sinh năm 1962; chồng, con: Không có; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1977; Địa chỉ: Tổ B, khu phố B, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.

Hiện nay: Phân trại tạm giam khu vực L.

Người làm chứng: Đỗ Hoàng L1. Sinh năm 2001; Địa chỉ: Tổ B, khu phố B, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.

Đỗ Đăng K. Sinh năm 2005; Địa chỉ: Tổ B, khu phố B, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2001, Đỗ Văn T đăng ký kết hôn với bà Đặng Thị H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 74 ngày 27/06/2001 tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước. T và bà H có hai người con chung gồm: Đỗ Hoàng L1, sinh năm 2001 và Đỗ Đăng K, sinh năm 2005, cùng nhau sinh sống tại tổ B, khu phố A, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước cùng với bà Phạm Thị L, sinh năm 1936 là mẹ của T. Đến năm 2014 thì giữa T và bà H xảy ra mâu thuẫn nên một mình bà H đến thuê phòng trọ ở khu phố D, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước để sinh sống và làm nghề thợ may; còn T cùng với Đỗ Hoàng L1 và Đỗ Đăng K sống trong căn nhà ở tổ B, khu phố A, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước cùng với bà Phạm Thị L. Trong thời gian sống ly thân thì bà H thỉnh thoảng vẫn về lại căn nhà T sống cùng hai người con ở tổ B, khu phố A, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước để chơi; T cũng thỉnh thoảng vẫn đưa hai người con qua thành phố Đ để thăm bà H và quan hệ tình cảm với nhau bình thường, giữa T bà và H vẫn chưa ly hôn.

Khoảng năm 2017, T mở quán ăn “Cây Sung” tại căn nhà ở tổ B, khu phố A, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước và thuê người phụ bán quán là Nguyễn Nhất A. Nhất A là người chưa có chồng thuê phòng trọ ở cách quán của T khoảng 300 mét, trong thời gian Nhất A phụ bán quán giữa hai người nảy sinh tình cảm yêu đương. Đền năm 2018, T đưa Nhất A về căn nhà của T sống chung với nhau như vợ chồng và ngủ chung phòng với T. T và Nhất A thường quan hệ tình dục với nhau ở phòng ngủ của T, có khi thuê nhà nghỉ bên ngoài để quan hệ tình dục với nhau. Bà H biết T sống chung với nhau như vợ chồng với Nhất A nên không về nhà nữa và đón hai người con đến ở cùng bà H tại phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

Năm 2020, bà H đến quán ăn “Cây Sung” gặp T nói chuyện chia tài sản (đất) dẫn đến cãi nhau. Lúc này, Nhất A cũng có mặt ở quán nên biết bà H là vợ T và chưa làm thủ tục ly hôn nhưng Nhất A vẫn tiếp tục sống chung như vợ chồng với T tại căn nhà của T. Đến tháng 10/2023 bà H về lại căn nhà ở tổ B, khu phố A, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước gặp T để nói chuyện về phân chia tài sản (đất) và tiếp tục xảy ra mâu thuẫn với nhau, lúc này Nhất A cũng có mặt tại nhà T.

Ngày 02/11/2023, bà H đến Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành nộp đơn xin ly hôn với Đỗ Văn T với lý do T đã ngoại tình, tình cảm vợ chồng không còn. Ngày 08/11/2023, bà H gửi đơn tố cáo T có hành vi “Vi phạm chế độ một vợ một chồng” theo quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự. Tại Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST ngày 11/6/2024 của Tòà án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Phước nhận định: “Trong quá trình chung sống bà H cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, bà H bận rộn làm ăn, thường xuyên đi xa, ông T đã ngoại tình trong thời gian này dẫn tới vợ chồng thường xuyên cãi vã, xung đột, không thể chung sống được với nhau nên đã ly thân từ 2014 cho đến nay, hiện ông bà không còn quan tâm đến nhau nữa...” và tuyên xử cho bà Đặng Thị H được ly hôn với Đồ Văn T3.

Việc thu giữ đồ vật tài liệu và xử lý vật chứng : Không

Bản cáo trạng số 80/CTr-VKS, ngày 28/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Đỗ Văn T, Nguyễn Nhất A về tội “Vi phạm chế độ một vợ, một chồng” được quy định tại khoản 1 Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội “Vi phạm chế độ một vợ, một chồng” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 182; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 36,50,

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đỗ Văn T mức án từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ; xử phạt bị cáo Nguyễn Nhất A mức án từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố và không có ý kiến gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo nhận thức hành vi của mình sai trái và rất hối hận. Các bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người làm chứng có đơn xin xử vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Đỗ Văn T và bà Đặng Thị H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào năm 2001 theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của Đỗ Văn T và Đặng Thị H là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, từ năm 2018 đến năm 2023, mặc dù Đỗ Văn T chưa ly hôn với bà H nhưng Đỗ Văn T đã chung sống như vợ chồng với Nguyễn Nhất A tại tổ B, khu phố A, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước làm cho quan hệ hôn nhân của bà H và Đỗ Văn T dẫn đến ly hôn. Nguyễn Nhất A mặc dù biết bà H là vợ của Đỗ Văn T và chưa làm thủ tục ly hôn nhưng Nhất A vẫn chung sống như vợ chồng với T. Hành vi của Đỗ Văn T và Nguyễn Nhất A đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Vi phạm chế độ một vợ, một chồng” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 182 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của các các bị cáo ảnh hưởng xấu trật tự xã hội, làm cho gia đình phải phân tán, các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; các bị cáo có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 80/CTr-VKS, ngày 28/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội “Vi phạm chế độ một vợ, một chồng” là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xét thấy, hành vi của các bị cáo làm hoang mang dư luận xã hội, ảnh hưởng đến con cái, làm cho gia đình phải phân tán dẫn tới vợ chồng phải ly hôn.Tuy nhiên bị cáo T là lao động chính trong nhà, đang phải nuôi các con, bị cáo A có nhân thân tốt, có chỗ ở rỏ ràng nên không cần cách ly các bị cáo mà cho các bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ để quản lý giao dục các bị cáo là đủ.

[5]. Về xử lý vật chứng:

[6]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 182; Điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 36,50 Bộ luật hình sự.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T và Nguyễn Nhất A phạm tội “Vi phạm chế độ một vợ một chồng”
  2. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 09(chín) tháng cải tạo không giam giữ

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhất A 09(chín) tháng cải tạo không giam giữ

    Giao các bị cáo cho UBND xã, phường nơi các bị cáo đang sinh sống để quản lý giáo dục đối với các bị cáo.

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước
  • - VKSND tỉnh Bình Phước
  • - VKSND thị xã Chơn Thành;
  • - CCTHADS thị xã Chơn Thành;
  • - CA thị xã Chơn Thành;
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Văn Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2025/HSST ngày 13/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về vi phạm chế độ một vợ, một chồng (hình sự)

  • Số bản án: 80/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger