Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. L - TP. ĐÀ NẴNG


Bản án số: 80/2025/HSST

Ngày: 03-6-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN L, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đức Thọ

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc

Ông Nguyễn Công Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy- Thư ký của Tòa án nhân dân quận L, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Đà Nẵng: Ông Trương Công Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận L, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2025/HSST ngày 07 tháng 5 năm 2025 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Phan Châu Thịnh Ph, sinh ngày 03/12/2005 tại Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 20, phường H, quận L, TP Đà Nẵng; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thanh S (chết) và bà Châu Thị Thảo Tr (sống); bị cáo là con duy nhất trong gia đình; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ 12/12/2024 và chuyển sang tạm giam từ ngày 21/12/2024 cho đến nay ; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  2. Tưởng Nhật V, sinh ngày 29/8/2002 tại Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT: Tổ 01, phường H, quận C, TP Đà Nẵng; chỗ ở hiện nay: Số 02, Nguyễn Như H, phường H, quận L, TP Đà Nẵng; trình độ văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tưởng Nhật Q và bà Trương Thị Thùy L; gia đình bị cáo có hai anh em, bị cáo là con út; tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • - Ngày 26/01/2022, bị Công an thành phố Đà Nẵng xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác.
    • - Ngày 14/10/2019, bị Tòa án nhân dân quận Sơn Tr, TP. Đà Nẵng xử phạt 18 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/12/2024 và chuyển sang tạm giam từ ngày 21/12/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Trần Công H, sinh ngày 12/9/1999 tại Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT: Tổ 23, phường Th, quận Th, tp Đà Nẵng; chỗ ở hiện nay: K137/10/10A T, phường H, quận L, TP Đà Nẵng; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Công Ch và bà Trần Thị Ngọc L; gia đình bị cáo có bốn anh em, bị cáo là con út; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/12/2024 và chuyển sang tạm giam từ ngày 21/12/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Các bị cáo Phan Châu Thịnh Ph,Tưởng Nhật V, Trần Công H bị Viện kiểm sát nhân dân quận L,Tp Đà Nẵng truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Anh Trần Công Tr –sinh năm 1999; trú tại: Tổ 23, phường Th, quận Th, tp Đà Nẵng; vắng mặt;
  • + Bà Lê Thị Th –sinh năm 1979; trú tại: Tổ 48, phường H, quận H, tp Đà Nẵng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 30' ngày 12/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L kiểm tra tại phòng ngủ tầng 02 căn nhà số 137/10/10A T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng Ph hiện Phan Châu Thịnh Ph, Tưởng Nhật V và Trần Công H có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, trên bàn phòng ngủ có 01 dĩa sứ màu trắng có chất bột màu trắng mà các đối tượng khai là ma túy, tờ tiền 10.000 đồng được cuốn thành ống, 01 thẻ ngân hàng nên Cơ quan điều tra lập biên bản, tạm giữ đồ vật đưa các đối tượng về trụ sở cơ quan Công an làm việc.

Tang vật thu giữ:

  • - Chất bột màu trắng trên dĩa sứ (ký hiệu A);
  • - 01 dĩa sứ trắng; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuốn thành ống, 01 thẻ ngân hàng SCB só thẻ 4536180070187963 mang tên Trần Công H, 01 vỏ bao ni lông rỗng.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, không gắn thẻ sim, số Imei: 353101100076362 (thu giữ của Phan Châu Thịnh Ph); 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen gắn sim số 0768222299, số Imei: 357061221804579 (thu giữ của Tướng Nhật V); 01 điện thoại di động hiệu Realme màu đen, gắn thẻ sim số 0774543199, số Imei: 864751061996693 (thu giữ của Trần Công H).

Quá trình điều tra xác định: Vào sáng ngày 12/12/2024, Phan Châu Thịnh Ph, Tưởng Nhật V, Trần Công H đang ngồi nH tại quán nH Quang V trên đường Tôn Đức Thắng, thành phố Đà Nẵng. Sau khi nH xong, V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 43AA-AAAAAchở Ph, H về. Trên đường về Ph rủ H và V về nhà H tại số 137/10/10A Tô H, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng để sử dụng trái phép chất ma túy thì V đồng ý còn H không nói gì. Khi đến nhà H, V và H đi vào nhà còn Ph điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 43AA-AAAAAvề nhà mình tại Kiệt 183/10/9 Tô H, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng để lấy gói ma túy (loại Ketamine) để sử dụng. Khi Ph về nhà H thì H lấy xe đi làm còn Ph và V đi lên phòng ngủ của H. Tại đây, V lấy dĩa sứ, thẻ ngân hàng và tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuốn thành ống có sẵn trong hộc bàn phòng ngủ của H ra để lên bàn. V lấy ma túy đổ ra dĩa sứ màu trắng, Ph lấy quẹt lửa đốt dưới dĩa sứ có chứa ma túy rồi dùng thẻ ngân hàng phân chia thành nhiều đường chỉ nhỏ. Sau đó, Vính, Ph sử dụng ma túy bằng cách dùng ống hút bằng tiền hít vào mũi. Một lúc sau H đi làm về, V rủ H sử dụng ma túy thì H sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong Ph, H, V đi ngủ đến trưa ngày 12/12/2024 thì Công an đến kiểm tra Ph hiện lập biên bản như đã nêu trên.

Qua xét nghiệm nước tiểu Phan Châu Thịnh Ph, Trần Công H, Tưởng Nhật V dương tính với với chất ma túy.

Tại Cơ quan điều tra Phan Châu Thị Ph, Trần Công H, Tưởng Nhật V khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận giám định số: 03/GĐ-MT ngày 20/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong (ký hiệu A) gửi giám định là ma túy loại Ketamin khối lượng mẫu 0,030 gam.

Tại Bản cáo trạng số: 65/CT-VKSLC ngày 05/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Phan Châu Thịnh Ph, Tưởng Nhật V, Trần Công H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Phan Châu Thịnh Ph, Tưởng Nhật V, Trần Công H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự như nội dung Cáo trạng.

Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như về nhân thân của các bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Đối với bị cáo Phan Châu Thịnh Ph:

    Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Châu Thịnh Ph mức án từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  • Đối với bị cáo Tưởng Nhật V:

    - Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Tưởng Nhật V mức án từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  • Đối với bị cáo Trần Công H:

    - Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Công H mức án từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập đường lối xử lý về tang vật chứng, tiền án phí.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, thành phố Đà Nẵng;Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Đà Nẵng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Qua xem xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa; quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 11 giờ 30' ngày 12/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L kiểm tra tại phòng ngủ tầng 02 căn nhà số 137/10/10A Tô H, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng Ph hiện và lập biên bản về việc Phan Châu Thịnh Ph, Tưởng Nhật V, Trần Công H có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Qua giám định xác định ma túy mà các bị cáo sử dụng là Ketamine khối lượng ma túy còn lại khi bị tạm giữ là 0,030 gam.

Như vậy, với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy “Đối với 02 người trở lên ”của các bị cáo Phan Châu Thịnh Ph, Tưởng Nhật V, Trần Công H đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

[3]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:

Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, các bị cáo Phan Châu Thịnh Ph, Tưởng Nhật V, Trần Công H là những người có năng lực trách nhiệm hình sự nên nhận thức rõ tác hại của ma túy là chất gây nghiện, ma túy không chỉ gây tổn hại sức khoẻ và tinh thần của con người mà còn là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội nói chung và làm gia tăng các loại tội phạm khác nói riêng. Nhận thức rõ điều đó, nhưng các bị cáo bất chấp pháp luật tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhằm để thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Do đó cần phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra mới đủ tính răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[4]. Xét vai trò phạm tội của các bị cáo thì thấy:

Trong vụ án này, bị cáo Phan Châu Thịnh Ph là người khởi xướng, rủ rê, chủ động đề xuất việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời là người trực tiếp đi lấy ma túy (Ketamine) mang đến địa điểm là nhà của bị cáo Trần Công H để sử dụng cùng với các bị cáo khác. Ngoài ra, bị cáo Ph cũng là người tham gia phân chia ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo Ph thể hiện vai trò đầu vụ, giữ vai trò chính, có tính chủ động và quyết định trong việc tổ chức sử dụng ma túy. Do đó, cần xác định bị cáo Ph giữ vai trò cao nhất trong vụ án.

Đối với bị cáo Tưởng Nhật V là người tích cực giúp sức cho bị cáo Ph trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể, bị cáo V đã chuẩn bị các dụng cụ sử dụng ma túy gồm: dĩa sứ, thẻ ngân hàng, tờ tiền được cuốn thành ống – là các vật dụng được lấy từ trong hộc bàn tại phòng ngủ của bị cáo H để phục vụ việc sử dụng ma túy. Bị cáo cùng bị cáo Ph trực tiếp sử dụng chất ma túy trước khi rủ bị cáo H cùng tham gia. Mặc dù không phải người khởi xướng, nhưng hành vi của bị cáo V tích cực góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho hành vi phạm tội diễn ra, nên giữ vai trò thứ hai trong vụ án.

Đối với bị cáo Trần Công H là người cho các bị cáo khác mượn địa điểm (phòng ngủ tại nhà mình) để thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy không trực tiếp rủ rê, chuẩn bị ma túy hay dụng cụ sử dụng, nhưng bị cáo không phản đối khi được rủ rê tham gia và đã cùng sử dụng ma túy với các bị cáo khác, thể hiện sự đồng tình, tiếp tay và tham gia tích cực. Vì vậy, bị cáo H được xác định là đồng phạm, có vai trò thứ ba trong vụ án, vai trò hạn chế hơn so với bị cáo Ph và bị cáo V.

[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo H có ông nội là người có công cách mạng nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự khi lượng hình.

[6]. Về nhân thân:

Bị cáo V có nhân thân xấu, ngày 14/10/2019, bị Tòa án nhân dân quận Sơn Tr, TP. Đà Nẵng xử phạt 18 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và năm 2022, bị Công an thành phố Đà Nẵng xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác.

Từ những phân tích trên, cần xử phạt các các bị cáo mức án nghiêm minh tương xứng tính chất, vai trò phạm tội của mỗi bị cáo gây ra, trong đó bị cáo Ph vai trò cao nhất nên phải chịu mức án nghiêm khắc nhất, tiếp đến là bị cáo Tưởng Nhật V và sau cùng là bị cáo Trần Công H.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cả 03 bị cáo không có tài sản riêng; bị cáo Ph và bị cáo V không có nghề nghiệp, bị cáo H lao động phổ thông thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

[8]. Về quan điểm luận tội cũng như đề nghị mức hình phạt của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:

  • - Tịch thu tiêu huỷ tang vật không có giá trị sử dụng gồm: Toàn bộ vỏ bao gói mẫu ma túy được hoàn trả được niêm phong có dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình Công an thành phố Đà Nẵng, 01 đĩa sứ trắng, 01 thẻ ngân hàng SCB số thẻ 4536180070187963 mang tên TRAN CONG H, 01 vỏ bao ni lông rỗng.
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng.
  • - Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, không gắn thẻ sim, số Imei: 353101100076362 của bị cáo Phan Châu Thịnh Ph; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen gắn sim số 0768222299, số Imei: 357061221804579 của bị cáo Tưởng Nhật V và 01 điện thoại di động hiệu Realme màu đen, gắn thẻ sim số 0774543199, số Imei: 864751061996693 của bị cáo Trần Công H do các điện thoại này không có liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.

[10]. Đối với những vấn đề khác trong vụ án, cụ thể:

Đối với nguồn gốc ma túy mà các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép là của Ph về nhà mang đến. Ph khai nhận số ma túy nêu trên được một người tên T (hiện chưa xác định lai lịch, nhân dạng) cho Ph vào ngày 07/12/2024 để sử dụng. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra chưa làm việc được với đối tượng này. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xử lý sau là có căn cứ nên không xét.

Đối với căn nhà số 173/10/10A Tô H, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng do bà Trần Thị Ngọc L (sinh năm 1968, trú tại: phường T, quận T, TP. Đà Nẵng, là mẹ ruột của bị cáo Trần Công H) đứng tên chủ sở hữu, hiện bà L đang định cư tại nước Hoa Kỳ. Quá trình điều tra xác định ngôi nhà trên do bị cáo H và Trần Công Tr (sinh năm 1999, là em ruột của bị can H) quản lý, sinh sống. Quá trình sinh sống Tr không biết H tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 43AA-BBBBB do bà Lê Thị Th (sinh năm: 1979, trú tại: Tổ 48, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng) đứng tên chủ sở hữu. Quá trình điều tra xác định xe mô tô này do ông Tưởng Nhật Q (sinh năm: 1971, là cha ruột bị cáo Tường Nhật V) mượn của bà Th để sử dụng. Việc V sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện đi lại rồi sử dụng trái phép chất ma túy ông Q, bà Th hoàn toàn không biết; đồng thời sáng ngày 12/12/2024, ông Q liên hệ bị cáo V rồi đến lấy xe mô tô biển kiểm soát 43AA-AAAAA để đi làm. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

[11]. Về án phí: Các bị cáo Phan Châu Thịnh Ph,Tưởng Nhật V, Trần Công H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Phan Châu Thịnh Ph,Tưởng Nhật V,Trần Công H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
    • Đối với bị cáo Phan Châu Thịnh Ph:

      Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

      Xử phạt: Bị cáo Phan Châu Thịnh Ph 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 12/12/2024.

    • Đối với bị cáo Tưởng Nhật V:

      Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

      Xử phạt: Bị cáo Tưởng Nhật V 08 (Tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 12/12/2024.

    • Đối với bị cáo Trần Công H:

      Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

      Xử phạt: Bị cáo Trần Công H 07(Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 12/12/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự xử lý như sau:
    • - Tịch thu tiêu huỷ tang vật không có giá trị sử dụng gồm: Toàn bộ vỏ bao gói mẫu ma túy được hoàn trả được niêm phong có dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình Công an thành phố Đà Nẵng, 01 đĩa sứ trắng, 01 thẻ ngân hàng SCB số thẻ 4536180070187963 mang tên TRAN CONG H, 01 vỏ bao ni lông rỗng.
    • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng).
    • - Trả lại cho bị cáo Phan Châu Thịnh Ph 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, không gắn thẻ sim, số Imei: 353101100076362;
    • - Trả lại cho bị cáo Tưởng Nhật V 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen gắn sim số 0768222299, số Imei: 357061221804579;
    • - Trả lại cho bị cáo Trần Công H 01 điện thoại di động hiệu Realme màu đen, gắn thẻ sim số 0774543199, số Imei: 864751061996693.

    (Vật chứng trên, Chi cục thi hành án dân sự quận L, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/5/2025).

  3. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo Phan Châu Thịnh Ph,Tưởng Nhật V, Trần Công H phải chịu mỗi bị cáo 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND Q. L;
  • - Chi cục THADS Q. L;
  • - Công an TP.Đà Nẵng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Đức Thọ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2025/HSST ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN L, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 80/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN L, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ban an Phat-Vinh-Hau so 80
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger