|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 80/2025/HS-ST
Ngày 30/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hà Thị Anh;
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Mai Thị Hiền;
Ông Nguyễn Kim Minh;
Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Xuân Sơn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2025/TLST- HS ngày 10 tháng 6 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Hà Thị M; Tên gọi khác: Không, sinh ngày 08/6/1998 tại Sơn La. Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố B, thị trấn N, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi ở: Thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn T và bà Lò Thị V; Bị cáo có chồng là Vũ Trung H; Bị cáo có 01 con sinh năm 2024; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Đỗ Thị N, sinh năm 1983, địa chỉ: Khu T, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt
- Anh Trần Văn K sinh năm 1992. Địa chỉ: Tổ B, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 00 phút ngày 13/01/2025, tổ công tác Phòng C Công an tỉnh L phối hợp với Công an phường L tiến hành kiểm tra tại nhà nghỉ H1, số C đường N, tổ A, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai phát hiện tại phòng 202 có 01 đôi nam nữ gồm: Trần Văn K (sinh năm 1992, nơi thường trú: Tổ B, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai) và Đỗ Thị N (sinh năm 1983, nơi thường trú: Khu T, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ) đang thực hiện hành vi quan hệ tình dục mua bán dâm. Quá trình làm việc, Trần Văn K và Đỗ Thị N khai nhận được Hà Thị M môi giới để thực hiện hành vi mua bán dâm với hình thức quan hệ tình dục theo giờ với giá 600.000 đồng.
Quá trình làm việc, Hà Thị M khai nhận: Do không có công việc ổn định, Hà Thị M đã tự tạo lập tài khoản mạng xã hội Facebook ảo có tên “Lan A” (đăng ký bằng sim rác và sử dụng ảnh trên mạng làm ảnh đại diện) và đăng tải nội dung môi giới bán dâm trên mạng kèm số điện thoại 0877.720.xxx để khách có nhu cầu mua dâm liên hệ. Đồng thời, Hà Thị Mkết nối và trao đổi với Đỗ Thị N về việc bán dâm cho khách. Khi có khách liên hệ mua dâm thông qua tin nhắn ứng dụng Messenger hoặc số điện thoại, Hà Thị M sẽ gửi tin nhắn trao đổi giá bán dâm như sau: Quan hệ tình dục nhanh là 500.000 đồng/lần; quan hệ tình dục theo giờ là 600.000 đồng/giờ; trường hợp bán dâm qua đêm là từ 1.400.000 đồng đến 1.500.000 đồng tuỳ thuộc thời gian khách yêu cầu là sớm hay muộn. Trường hợp khách mua dâm đề nghị gửi ảnh gái bán dâm để xem trước thì Hà Thị M gửi ảnh gái bán dâm cho khách xem. Khi khách mua dâm nhất trí việc mua dâm thì Hà Thị M yêu cầu khách tự đặt phòng nghỉ tại khu vực ga thành phố Lào Cai, thuộc phường L, thành phố L rồi cung cấp thông tin phòng nghỉ, nhà nghỉ cho M. Sau đó, Hà Thị M sử dụng tài khoản Zalo tên “Lan A” liên hệ, trao đổi với Đỗ Thị N sử dụng tài khoản Zalo tên “Ngọc D” để điều Ngãi đến điểm hẹn bán dâm cho khách. Hà Thị M và Đỗ Thị N thống nhất ăn chia số tiền bán dâm thu được theo tỷ lệ 50/50, M và N mỗi người hưởng một nửa, tiền hưởng lợi từ việc bán dâm sẽ được Đỗ Thị N chuyển khoản cho Hà Thị M.
Khoảng 13 giờ 18 phút ngày 13/01/2025, sau khi thấy bài đăng về việc môi giới mại dâm trên mạng xã hội của Hà Thị M, Trần Văn K đã sử dụng tài khoản Facebook cá nhân tên “Phuc Chu Chu P” nhắn tin tới tài khoản “Lan Anh” của Hà Thị M. Hà Thị M và Trần Văn K thỏa thuận giá quan hệ tình dục theo giờ là 600.000 đồng/giờ và bảo Trần Văn K qua khu vực Phố M (phường L, thành phố L) lấy phòng nghỉ rồi gửi lại địa chỉ. Sau đó, Trần Văn K đi đến nhà nghỉ H1 tại địa chỉ số C, đường N, tổ A, phường L, thành phố L lấy phòng nghỉ và nhắn tin thông báo cho Hà Thị M. Lúc này, Hà Thị M nhắn tin qua Z cho Đỗ Thị N đến phòng 202, nhà nghỉ H1 để bán dâm cho khách thì Đỗ Thị N đồng ý và đến phòng 202 nhà nghỉ H1 để bán dâm cho Trần Văn K. Khi gặp Trần Văn K, Đỗ Thị N đề nghị K thanh toán tiền bán dâm, K đưa cho N 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng, tổng số tiền 1.000.000 đồng. Do không có tiền trả lại, Đỗ Thị N đã chuyển khoản cho K số tiền 400.000 đồng. Sau khi trả tiền xong, Đỗ Thị N đi tắm rồi cùng Trần Văn K cởi quần áo lên giường nằm ôm nhau để quan hệ tình dục. Đỗ Thị N mang theo 02 bao cao su để lên giường. Khi cả hai đang chuẩn bị quan hệ tình dục thì bị lực lượng công an vào kiểm tra phát hiện, lập biên bản và thu giữ vật chứng theo quy định.
Cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 09/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Hà Thị M về tội "Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hà Thị M phạm tội “Môi giới mại dân”. Áp dụng khoản 1 Điều 328; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Thị M từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Giao bị cáo cho UBND phường, Công an phường giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bao cao su vỏ màu hồng, chưa qua sử dụng;
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 02 điện thoại di động thu giữ của bị cáo Hà Thị M;
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 600.000 đồng thu giữ của Đỗ Thị N, số tiền còn lại là 400.000 đồng trả lại cho Đỗ Thị N;
- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị N 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu xanh và trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 màu xanh.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo Hà Thị M thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Hà Thị M khai nhận tội. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Ngày 13/01/2025 thông qua mạng xã hội, bị cáo Hà Thị M đã có hành vi môi giới để Đỗ Thị N bán dâm cho Trần Văn K tại Phòng 202 nhà nghỉ H1, địa chỉ số C đường N, tổ A, phường L, thành phố L. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Hà Thị M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm”. Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ.
[3] Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại tới chính sách phòng chống tệ nạn xã hội, trật tự an toàn xã hội, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy cần áp dụng điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh của bị cáo hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo luôn chấp hàng đúng chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên, không có tình tiết tăng nặng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cần áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự và nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho ủy ban nhân dân xã, công an xã nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập nghề nghiệp ổn định vì vậy không phạt bổ sung đối với bị cáo xét thấy là phù hợp.
[6] Về vật chứng vụ án:
Đối với 02 bao cao su vỏ màu hồng, chưa qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy xét thấy là phù hợp.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu xanh đen, số máy: MGHN3J/A, số seri: FFXĐWF1A0F00, bên trong lắp 01 thẻ sim, điện thoại cũ đã qua sử dụng, máy bị trầy xước; và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 có bàn phím, màu xanh, số IMEI 1: 358530921021113, số IMEI 2: 358530921021121, bên trong lắp 01 thẻ sim, điện thoại cũ đã qua sử dụng tạm giữ của Hà Thị M, xét thấy bị cáo sử dụng điện thoại để liên hệ trao đổi việc mua bán dâm, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước xét thấy là phù hợp.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu xanh đen, số IMEI 1: 869945060112998, số IMEI 2: 869945060112980, bên trong lắp 02 thẻ sim tạm giữ của Đỗ Thị N và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10, màu xanh đen, số IMEI 1: 357966109087552, số IMEI 2: 357967109087550, bên trong lắp 01 thẻ sim, (đã qua sử dụng) tạm giữ của Trần Văn K. Xét thấy Đỗ Thị N, Trần Văn K đã dùng điện thoại để nhắn tin, trao đổi việc thỏa thuận môi giới bán dâm với Hà Thị M, có chứa các nội dung liên quan đến thực hiện hành vi phạm tội của Hà Thị M nên bị Cơ quan điều tra tạm giữ để tiến hành điều tra hành vi phạm tội đối với Hà Thị M. Tuy nhiên hành vi của Đỗ Thị N, Trần Văn K không cấu thành tội phạm và đã bị xử phạt hành chính nên cần trả lại cho Đỗ Thị N và Trần Văn K hai chiếc điện thoại trên là phù hợp.
Đối với số tiền 1.000.000 đồng tạm giữ của Đỗ Thị N trong đó có 600.000 đồng, đây là tiền do hành vi môi giới mại dâm của Hà Thị M mà có, do vậy cần tịch thu số tiền 600.000 đồng nộp Ngân sách nhà nước. Số tiền còn lại 400.000 đồng trả lại cho Đỗ Thị N.
[7] Về các vấn đề liên quan trong vụ án:
Đối với việc bị cáo Hà Thị M khai nhận trước ngày 13/01/2025 đã có 3,4 lần môi giới cho Đỗ Thị N bán dâm. Quá trình điều tra ngoài lời khai của Hà Thị M không có tài liệu nào khác để chứng minh, không đủ căn cứ để xác minh làm rõ về nhân thân lai lịch của người mua dâm, thời gian, địa điểm xảy ra nên không đủ căn cứ để xử lý đối với hành vi này của bị cáo.
Đối với Đỗ Thị N đã thực hiện hành vi bán dâm theo sự chỉ đạo, môi giới của bị cáo Hà Thị M. Hành vi của Đỗ Thị N đã vi phạm hành chính về hành vi “Bán dâm” theo quy định tại khoản 1, Điều 25, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Phòng C Công an tỉnh L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đỗ Thị N là phù hợp.
Đối với Trần Văn K đã thực hiện hành vi mua dâm thông qua việc môi giới của Hà Thị M. Hành vi của Trần Văn K đã vi phạm hành chính về hành vi “Mua dâm” theo quy định tại khoản 1, Điều 24, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Phòng C Công an tỉnh L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn K là phù hợp
Đối với bà Nguyễn Thị T1 là chủ nhà nghỉ H1, địa chỉ số C, đường N, tổ A, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Quá trình điều tra xác định bà T1 không biết và không hưởng lợi gì từ hành vi môi giới mại dâm của Hà Thị M. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L không để cập xử lý đối với chủ cơ sở kinh doanh nhà nghỉ H1 là phù hợp. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị T1 không thực hiện việc khai báo lưu trú cho người đến lưu trú là Trần Văn K và Đỗ Thị N. Hành vi của bà Nguyễn Thị T1 đã vi phạm hành chính về “Kinh doanh lưu trú không thực hiện thông báo việc lưu trú từ 01 đến 03 người lưu trú” quy định tại điểm đ, Khoản 2, Điều 9 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Phòng C Công an tỉnh L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Nguyễn Thị T1 là phù hợp.
[8] Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo xét thấy là phù hợp.
[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 328; Điều 65; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hà Thị M phạm tội “Môi giới mại dâm”. Xử phạt bị cáo Hà Thị M 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Hà Thị M cho Ủy ban nhân dân xã B thực hiện nhiệm vụ giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Hà Thị M cho Công an xã B thực hiện việc giám sát trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 92 của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu xanh đen, số máy: MGHN3J/A, số seri: FFXDWF1A0F00, bên trong lắp 01 thẻ sim, điện thoại cũ đã qua sử dụng, máy bị trầy xước và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 có bàn phím, màu xanh, số IMEI 1: 358530921021113, số IMEI 2: 358530921021121, bên trong lắp 01 thẻ sim, điện thoại cũ đã qua sử dụng tạm giữ của Hà Thị M;
- Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su vỏ màu hồng, chưa qua sử dụng.
- Trả lại cho chị Đỗ Thị N 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu xanh số IMEI 1: 869945060112998, số IMEI 2: 869945060112980, bên trong lắp 02 thẻ sim, điện thoại cũ đã qua sử dụng, máy trầy xước;
- Trả lại cho anh Trần Văn K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10, màu xanh, số IMEI 1: 357966109087552, số IMEI 2: 357967109087550, bên trong lắp 01 thẻ sim, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/6/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L).
- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 600.000 đồng thu giữ của Đỗ Thị N, số tiền còn lại là 400.000 đồng trả cho chị Đỗ Thị N (Theo giấy nộp tiền ngày 07/5/2025 nộp vào số tài khoản 3949.0.9051207.00000 của Phòng C Công an tỉnh L).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hà Thị M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hà Thị Anh |
Bản án số 80/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai - Tỉnh Lào Cai về môi giới mại dâm
- Số bản án: 80/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Môi giới mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai - Tỉnh Lào Cai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà T M môi giới mại dâm
