Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2025/HS-ST

Ngày: 28-05-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trọng

Bà Nguyễn Thị Luận

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Đắc Hùng – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Khổng Duy Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 73/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 05 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 05 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Viết T (tên gọi khác: Nguyễn Viết T1), sinh năm 1974.

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn K, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết M và bà Nguyễn Thị X (Đều đã chết); vợ: Phùng Thị H và 01 con sinh năm 2002.

Danh chỉ bản số: 26 lập ngày 04/02/2025 tại Công an huyện C, Thành phố Hà Nội.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Bản án Hình sự sơ thẩm số: 23/HSST ngày 21/7/1995, Tòa án nhân dân thị xã Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Chấp hành xong ngày 27/01/1996.
  • + Bản án Hình sự sơ thẩm số: 32/HSST ngày 29/7/1996, Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam xử phạt 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.
  • + Bản án Hình sự sơ thẩm số: 01/HSST ngày 21/01/1997, Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam” và 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Chấp hành xong ngày 29/8/2001.
  • + Bản án Hình sự sơ thẩm số: 05/HSST ngày 19/02/2003, Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình xử phạt 48 (Bốn mươi tám) tháng tù về “Trộm cắp tài sản”. Do có kháng cáo, Bản án Hình sự phúc thẩm số: 37/HSPT ngày 21/5/2003, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phạt 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về “Trộm cắp tài sản".
  • + Bản án Hình sự sơ thẩm số: 17/HSST ngày 23/7/2003, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây xử phạt 09 (Chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Do có kháng cáo, Bản án Hình sự phúc thẩm số: 91/HSPT ngày 27/10/2003, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây xử phạt 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/11/2006.
  • + Bản án Hình sự sơ thẩm số: 52/2008/HSST ngày 08/12/2008, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng về tội “Trộm cắp tài sản” (Đã được xóa án tích).
  • + Bản án Hình sự sơ thẩm số: 52/2009/HSST ngày 23/6/2009, Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/11/2010.
  • + Bản án Hình sự sơ thẩm số: 43/2012/HSST ngày 17/4/2012, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xử phạt 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/6/2014.
  • + Bản án Hình sự sơ thẩm số: 04/2014/HSST ngày 02/12/2014, Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xử phạt 54 (Năm mươi tư) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/02/2019.
  • + Bản án Hình sự sơ thẩm số: 184/2019/HSST ngày 12/11/2019, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội xử phạt 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/5/2022.
  • Các bản án trên, đều đã được xóa án tích.
  • + Năm 1993, Công an thị xã S, tỉnh Hà Tây xử phạt “Cảnh cáo” về hành vi trộm cắp tài sản (đã được xóa).
  • + Năm 1994, Công an huyện C, tỉnh Hà Tây bắt về hành vi trộm cắp tài sản (đã được xóa).

Bị cáo bị tạm giữ từ 15/01/2025 đến ngày 23/01/2025.

Hiện đang tại ngoại tại thôn K, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

  1. Ông Tạ Viết K, sinh năm 1935
  2. Cư trú tại: thôn T, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội.

  3. Ông Phạm Văn H1, sinh năm 1945
  4. Cư trú tại: thôn T, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Viết T là người không có nghề nghiệp ổn định nên vào nhà người dân để thực hiện thủ đoạn gian dối tự giới thiệu mình là cán bộ xã đến thăm hỏi sức khỏe người cao tuổi và biếu 100.000 đồng nhằm để quan sát lấy trộm tiền của người bị hại. Ngày 22/12/2024, T đã thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản trên địa bàn xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 09 giờ 00 phút, Nguyễn Viết T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSV, màu sơn xanh đen, biển kiểm soát 29Y5-1105 đến trước cổng nhà ông Tạ Viết K, T dựng xe mô tô ở cổng rồi đi vào và thấy ông K đang ở bàn uống nước, T tự giới thiệu là cán bộ xã đến hỏi thăm sức khỏe và lấy tờ tiền 100.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm nghìn đồng) ra biếu ông K ăn quà. Tiệp quan sát thấy ông K mở tủ gỗ để tại phòng khách cầm bọc tiền ra để cất số tiền 100.000 đồng mà T vừa biếu ông K. Thấy vậy, T lấy lý do đổi tiền lẻ để đi mừng đám cưới, ông K đồng ý, T đưa cho ông K 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và nhận lại từ ông K 02 tờ mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng. Sau đó, T bảo ông K nhổ bán cho T ít hành ở vườn trước nhà. Tiệp lợi dụng khi ông K đang nhổ hành, đã lén lút đi vào trong nhà mở tủ gỗ lấy cọc tiền được để cùng 01 thẻ chứng nhận thương binh mang tên ông Tạ Viết K được cất trong hộp thuốc rồi cho vào túi quần bên phải của T đang mặc và đi ra ngoài. Khi ông K nhổ hành xong đưa cho T, T trả cho ông K 50.000 đồng tiền mua hành. Tiệp ra khỏi nhà ông K, điều khiển xe mô tô theo hướng thôn C, xã H rồi dừng lại ven đường, rút cọc tiền vừa trộm cắp được nhà ông K, đếm được số tiền 12.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười hai triệu đồng) (trong đó có 100.000 đồng do T biếu ông K). Tiếp đó, T cho toàn bộ số tiền đã trộm cắp được và 01 thẻ chứng nhận thương binh vào trong túi quần rồi tiếp tục đi trộm cắp.

Lần thứ 2: Sau khi T rời khỏi nhà ông K thì tiếp tục điều khiển xe mô tô đi trên đường, đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, T đi đến nhà ông Phạm Văn H1, T dừng xe mô tô biển kiểm soát 29Y5-1105 trước cổng nhà ông H1 và gọi “Ông ơi, bà ơi!” thì nghe thấy giọng ở trong buồng, T đi vào, nhìn thấy ông H1 đang nằm trong buồng (bên cạnh có máy thở oxy). Tiệp tự giới thiệu với ông H1, mình là cán bộ đi rà soát người cao tuổi, để lập danh sách hỗ trợ cho người cao tuổi, đồng thời T đưa 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm nghìn đồng) để biếu ông H1 ăn quà, sau khi ông H1 nhận tiền, T giả vờ nghe điện thoại như có người rủ đi đám cưới rồi rút 500.000 đồng tiền lẻ gồm 03 tờ mệnh giá 100.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 200.000 đồng đưa cho ông H1 và nói “Đổi cho con 500.000 đồng tiền chẵn để đi mừng đám cưới”, ông H1 lấy túi vải màu đỏ được cất trong gối đầu gường của ông H1, lấy ra 01 cọc tiền và rút 01 tờ mệnh giá 500.000 đồng đổi cho T. Sau khi ông H1 cất tiền vào chỗ cũ, mời T ra bàn uống nước. Khi ngồi uống nước, T nói “Cụ để cho con ít lá trầu không” và đưa cho ông H1 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng mua lá trầu không, ông H1 nói “Bác lấy bao nhiêu ra mà hái”, T nói “Ông hái cho con, con có việc bận, tý con quay lại lấy”, khi ông H1 đi ra vườn hái lá trầu không thì T giả vờ đi ra ngõ rồi khi ông H1 không để ý, T quay lại đi vào trong buồng nơi ông H1 và lấy túi vải đỏ đựng tiền của ông H1 cho vào túi quần bên phải Tiệp đang mặc rồi đi ra ngoài cổng, điều khiển xe mô tô đi về nhà. Trên đường đi về, T dừng lại ở dọc đường, kiểm đếm số tiền trong túi đỏ thấy gồm các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng và 100.000 đồng. Tổng số tiền T lấy trộm của ông H1 là 35.100.000 đồng (Trong đó có 100.000 đồng Tiệp cho ông H1). Tiệp cất tiền vào trong túi quần, còn túi vải đỏ của ông H1 và thẻ chứng nhận thương binh của ông K thì T vứt ở bên đường, nhưng không nhớ vứt ở địa điểm nào. Sau đó, T điều khiển xe mô tô đi về nhà.

Ngay sau khi phát hiện bị mất trộm tiền, ông Tạ Viết K kể lại sự việc cho con gái là chị Tạ Thị N. Ông Phạm Văn H1 cũng kể lại sự việc cho con trai là anh Phạm Văn K1 biết. Đến ngày 25/12/2024, chị N và anh K1 đến Công an xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội trình báo sự việc bị kẻ gian vào nhà trộm cắp tài sản ngày 22/12/2024, trong đó ông Tạ Viết K bị mất số tiền 12.000.000 đồng và 01 thẻ chứng nhận thương binh mang tên ông K; ông Phạm Văn H1 bị mất số tiền 35.100.000 đồng và 01 túi vải đỏ do ông H1 tự chế.

Đến ngày 15/01/2025, Nguyễn Viết T nghe tin Công an xã xác minh vụ trộm cắp tài sản, T đã đến Cơ quan điều tra Công an huyện C xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi pham tội. Đồng thời, T đã thú nhận với gia đình T và nhờ gia đình lấy trả lại số tiền 12.000.000 đồng và 500.000 đồng để đi làm lại thẻ thương binh cho ông Tạ Viết K; trả cho ông Phạm Văn H1 số tiền 35.000.000 đồng.

* Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSV, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 29Y5-1105, số khung RLHHC09026Y622476, số máy HC09E6719823, đã qua sử dụng.

Cơ quan Điều tra Công an huyện C đã ra thông báo truy tìm vật chứng đối với 01 túi vải màu đỏ (kích thước dài 20cm, rộng 15cm, không rõ chất liệu vải) và 01 thẻ chứng nhận thương binh mang tên Tạ Viết K nhưng không có kết quả.

Tại Công văn số: 02/HĐĐGTS ngày 17/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự của Ủy ban nhân dân huyện C đã từ chối định giá tài sản đối với 01 túi vải màu đỏ mà Nguyễn Viết T đã trộm cắp của ông Phạm Văn H1 do tài sản yêu cầu định giá không thu giữ được, không có thông tin tài liệu, không đủ các điều kiện để xác định giá trị tài sản theo quy định.

Cơ quan điều tra tiến hành xác minh nguồn gốc 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSV, màu sơn xanh đen, biển kiểm soát 29Y5-1105, số khung RLHHC09026Y622476, số máy HC09E6719823, xe đã qua sử dụng. Theo Nguyễn Viết T khai là xe của T mua lại của người không quen biết trên mạng xã hội. Cơ quan điều tra đã tra cứu, xác minh chủ xe là bà Lê Thị H2, sinh năm 1946, trú tại số nhà B, ngõ C Phố N, phường K, quận T, Thành phố Hà Nội, bà H2 khai nhận đã bán chiếc xe trên từ lâu cho một cửa hàng mua bán xe máy cũ ở khu vực quận C, Thành phố Hà Nội và không nhớ địa chỉ cụ thể; kết quả tra cứu không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng của Bộ C1.

* Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

  • + Gia đình ông Tạ Viết K đã nhận đủ số tiền 12.000.000 đồng và 500.000 đồng để đi làm lại thẻ thương binh; đối với 01 thẻ chứng nhận thương binh mang tên Tạ Viết K, gia đình ông K sẽ tự khắc phục, đi làm lại, không có yêu cầu, đề nghị gì.
  • + Gia đình ông Phạm Văn H1 đã nhận đủ số tiền 35.000.000 đồng do gia đình T khắc phục và không lấy lại 100.000 đồng do T đưa cho; đối với 01 túi vải màu đỏ do ông H1 lấy vải cũ và tự khâu, không có yêu cầu, đề nghị gì.
  • + Gia đình ông Tạ Viết K và gia đình ông Phạm Văn H1 đều có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nguyễn Viết T.

Cáo trạng số: 70/CT-VKS ngày 15/05/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Viết T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo Nguyễn Viết T đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như bản cáo trạng đã quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Nguyễn Viết T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g, i khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Viết T từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tích từ ngày bắt đi thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/01/2025 đến ngày 23/01/2025.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị cáo Nguyễn Viết T 01 xe mô tô.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của cơ quan truy tố, về hành vi tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp tạm giữ, thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, các biện pháp điều tra như: Lấy lời khai bị can, lấy lời khai người bị hại, người làm chứng, trưng cầu định giá tài sản, giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can. Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu thập đầy đủ, đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên không mớm cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình đối với bị can. Quá trình điều tra, bị cáo, người bị hại đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2]. Về sự vắng mặt của người bị hại là ông Tạ Viết K và ông Phạm Văn H1: Trong quá trình điều tra ông Tạ Viết K và ông Phạm Văn H1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, việc vắng mặt của ông Tạ Viết K và ông Phạm Văn H1 không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Viết T tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của những người bị hại, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để kết luận:

Trong ngày 22/12/2024, tại thôn T và thôn T thuộc địa bàn xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội, Nguyễn Viết T (tên gọi khác Nguyễn Viết T1) đã có hành vi lén lút vào nhà thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản của ông Tạ Viết K số tiền 12.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười hai triệu đồng) và 01 thẻ chứng nhận thương binh mang tên Tạ Viết K; trộm của ông Phạm Văn H1 số tiền 35.100.000 đồng (Bằng chữ: Ba mươi năm triệu, một trăm nghìn đồng) và 01 túi vải màu đỏ. Tổng số tiền trộm cắp là 47.100.000 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi bảy triệu, một trăm nghìn đồng). Đến ngày 15/01/2025, Nguyễn Viết T đến Cơ quan Điều tra, Công an huyện C đầu thú.

Hành vi lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu là ông Tạ Viết K và ông Phạm Văn H1 rồi lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Tạ Viết K số tiền 12.000.000 đồng và của ông Phạm Văn H1 số tiền 35.100.000 đồng mà Nguyễn Viết T thực hiện đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số: 70/CT-VKS ngày 15/05/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Viết T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; xâm phạm đến trật tự công cộng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” và đã nhiều lần được giáo dục cải tạo nhưng không chịu tu dưỡng bản thân để trở thành người có ích cho xã hội, nay lại tiếp tục phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Do vậy, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như phòng ngừa chung.

[2.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, tạo điều kiện để bị cáo yên tâm cải tạo.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo cùng lúc 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người trên 70 tuổi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên” theo quy định tại điểm g, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[2.4] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi tội phạm bị phát hiện, bị cáo đã đến Cơ quan Công an đầu thú; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ cho người bị hại, đại diện gia đình người bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bản thân bị cáo sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị tai biến nên đi lại khó khăn là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là ông Phạm Văn H1 và ông Tạ Viết K đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm bồi thường.

[4]. Về xử lý vật chứng: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSV, màu sơn xanh đen, biển kiểm soát 29Y5-1105, số khung RLHHC09026Y622476, số máy HC09E6719823 thuộc quyền sử dụng của bị cáo cần trả lại cho bị cáo.

[5]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Viết T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết T (tên gọi khác Nguyễn Viết T1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g, i khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Viết T (tên gọi khác Nguyễn Viết T1) 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tích từ ngày bắt đi thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/01/2025 đến ngày 23/01/2025.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
  4. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Viết T (tên gọi khác Nguyễn Viết T1) 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSV, biển kiểm soát 29Y5-1105, màu sơn đỏ đen, số khung RLHHC09026Y622476, số máy HC09E6719823.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 27/05/2025 giữa Công an Thành phố H với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội).

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Viết T (tên gọi khác Nguyễn Viết T1) phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
    • + Bị cáo Nguyễn Viết T (tên gọi khác Nguyễn Viết T1) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
    • + Người bị hại là ông Tạ Viết K và ông Phạm Văn H1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - Công an huyện Chương Mỹ;
  • - CC THA dân sự huyện Chương Mỹ;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hoàng Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 80/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger