Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2025/HS-ST

Ngày 25 tháng 6 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn An và bà Đỗ Thị Kim Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bích Huệ - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thơm - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: DƯƠNG VĂN T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1994 tại Huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi thường trú: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: Lớp 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Dương Thành C, sinh năm 1968 và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1974; có vợ là Hầu Thị D, sinh năm 1997 và có 02 con (lớn sinh năm 2014; nhỏ sinh năm 2019); Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 31/12/2024 được tại ngoại, (có mặt).

  2. Họ và tên: NGUYỄN VĂN T1 (tên gọi khác: Không), sinh năm 1994 tại Huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi thường trú: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1969 và con bà Đoàn Thị H, sinh năm 1971; có vợ là Nguyễn Thị D1, sinh năm 1994 và chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/12/2024 đến ngày 31/12/2024 được tại ngoại, (có mặt).

  3. Họ và tên: ĐOÀN VĂN T2 (tên gọi khác: Không), sinh năm 1993 tại Huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi thường trú: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Đoàn Văn T3, sinh năm 1964 và con bà Dương Thị L, sinh năm 1964; có vợ Nguyễn Thị L1, sinh năm 1994 và có 02 con (lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2024); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do quen biết nhau từ trước và căn cứ vào kết quả quay xổ số kiến thiết miền B nên Dương Văn T, Đoàn Văn T2, Nguyễn Văn T1 đã thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức mua, bán các số lô, số đề với nhau. Các bị cáo Dương Văn T, Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2 thoả thuận mức sát phạt giá mua bán số lô là 22.000đ/01 điểm, nếu thắng sẽ được 80.000đ/01điểm. Cụ thể:

  1. Hành vi đánh bạc giữa Dương Văn T và Đoàn Văn T2:

    Chiều ngày 25/12/2024, Đoàn Văn T2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F8 màu đen đăng nhập tài khoản Telegram có tên “TốVít” được đăng ký bởi số điện thoại 0973.008.xxx của T2 nhắn 03 tin nhắn đến tài khoản Telegram có tên “Ahi” của T để mua số lô của T. Cụ thể:

    - Tin nhắn 1: Hồi 17h29' ngày 25/12/2024, T2 nhắn tin cho T: “Lô 97x100đ 89-59-47-48x30đ-79x40đ” có nghĩa là T2 mua số lô 97 x 100 điểm; các số lô 89, 59, 47, 48 mỗi số x 30 điểm = 120 điểm, 79 x 40 điểm; tổng là 260 điểm x 22.000đ/01 điểm = 5.720.000₫.

    - Tin nhắn 2: Hồi 17h29' ngày 25/12/2024, T2 nhắn tin cho T: “Lô 54-464-97x10đ” có nghĩa là T2 mua số lô 54, 46, 64, 97 mỗi số x 10 điểm; tổng là 40 điểm x 22.000đ/01 điểm = 880.000₫.

    - Tin nhắn 3: Hồi 17h44' ngày 25/12/2024, Tố nhắn tin: “Lô 41x50đ” có nghĩa là T2 mua 01 số lô 41 x 50 điểm x 22.000đ/01 điểm = 1.100.000đ.

    Hồi 17h32' và 17h44' cùng ngày 25/12/2024, T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu đen của T đăng nhập tài khoản Telegram có tên: “Ahi” được đăng ký bởi số điện thoại 0901.784.xxx của T nhắn tin “Ok” đến tài khoản Telegram có tên: “TốVít” của T2 có nghĩa là T đồng ý.

    Tổng số tiền Đoàn Văn T2 mua 10 số lô của Dương Văn T là 6.600.000đ + 1.100.000₫ = 7.700.000₫.

    Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B cùng ngày, đối chiếu thì T2 trúng 03 số lô gồm: 89 x 30 điểm trúng 02 lần = 60 điểm, 47 x 30 điểm, 64 x 10 điểm, tổng là 100 điểm x 80.000đ/01 điểm = 8.000.000đ.

    Hồi 18h48' cùng ngày, T nhắn tin cho T2: “Tổng đánh 7.700, Tổng dc 8.000, hôm nay +300”, có nghĩa là T nói với T2 là tổng số tiền Tố mua số lô của T là 7.700.000đ; Tố trúng được 8.000.000đ và thắng được 300.000đ. Hồi 18h50'cùng ngày, T tiếp tục nhắn tin cho T2 với nội dung: “21.990-300=21.690”, có nghĩa là trước đó T2 còn nợ tiền vay của T là 21.990.000đ trừ số tiền 300.000đ thì T2 còn nợ T số tiền là 21.690.000đ. Đến khoảng 18h50' cùng ngày, T2 nhắn tin cho T với “Ok” tức là T2 đồng ý. Hồi 18h51' cùng ngày, T nhắn tin cho T2: “Xoá nhé” có nghĩa là T bảo T2 nhớ và xác nhận các nội dung trên là đúng thì T sẽ xoá các tin nhắn này để tránh bị Cơ quan Công an phát hiện.

    Như vậy, tổng số tiền T và T2 đánh bạc với nhau ngày 25/12/2024 là 7.700.000đ + 8.000.000₫ = 15.700.000đ. Sau khi bù trừ đi tiền Tố mua số lô và tiền Tố trúng số lô thì T2 thắng của T số tiền là 300.000đ. Số tiền này T và T2 chưa kịp thanh toán thắng thua cho nhau.

  2. Hành vi đánh bạc giữa Dương Văn T và Nguyễn Văn T1:

    Chiều ngày 25/12/2024, Dương Văn T sau khi nhận tin nhắn bán số lô của Đoàn Văn T2 thì T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu đen đăng nhập tài khoản Telegram có tên: “Ahi” được đăng ký bởi số điện thoại 0901.784.xxx của T nhắn 04 tin đến tài khoản Telegram có tên: “Em Anh” của Nguyễn Văn T1. Trong đó: tin nhắn 1 là T trực tiếp mua ba số lô của T1; còn các tin nhắn 2, 3, 4 là T chuyển các số lô mà T đã bán cho T2 trước đó đến cho T1. Cụ thể:

    - Tin 1: Hồi 17h57' ngày 25/12/2024, T nhắn: “Lô 58-85-08x100” cho T1 có nghĩa là số lô 58, 85, 08 mỗi số x 100 điểm với giá 22.000đ/01 điểm, tổng là 300 điểm x 22.000đ. = 6.600.000₫.

    - Tin 2: Hồi 17h58′ ngày 25/12/2024, T nhắn: “Lô 97x100₫ 89-59-47-48x30đ-79x40đ” cho T1 có nghĩa là số lô 97 x 100 điểm; 89, 59, 47, 48 mỗi số x 30 điểm; 79 x 40 điểm, tổng là 260 điểm x 22.000đ/01điểm = 5.720.000₫.

    - Tin 3: Hồi 17h58' ngày 25/12/2024, T nhắn “Lô 54-464-97 x10đ” cho T1 có nghĩa là số lô 54, 46, 64, 97 mỗi số x 10 điểm, tổng là 40 điểm x 22.000đ/01 điểm = 880.000₫.

    - Tin 4: Hồi 17h58′ ngày 25/12/2024, T nhắn tin “Lô 41x50đ” cho T1 có nghĩa là 41 x 50 điểm = 1.100.000₫.

    Hồi 17h59' cùng ngày 25/12/2024, sau khi nhận 04 tin nhắn trên của T thì T1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng đăng nhập tài khoản Telegram có tên: “Em Anh” được đăng ký bởi số điện thoại 0898.728.xxx của T1 nhắn tin lại với nội dung: “Oke” đến tài khoản Telegram có tên: “Ahi” của T có nghĩa là T1 đồng ý. Tổng số tiền T mua là 6.600.000đ + 5.720.000đ + 880.000đ + 1.100.000₫ = 14.300.000₫.

    Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B, đối chiếu thì T trúng 05 số lô, gồm: 85, 08 mỗi số x 100 điểm, 89 x 30 điểm trúng 02 lần = 60 điểm, 47 x 30 điểm, 64 x 10 điểm, tổng là 300 điểm x 80.000đ/01điểm = 24.000.000đ. Như vậy, bù trừ đi tiền mua lô của T và tiền T thắng lô của T1 với số tiền là 24.000.000đ - 14.300.000đ, thì T1 còn phải thanh toán trả cho T số tiền là 9.700.000đ, T và T1 chưa kịp thanh toán tiền thắng thua với nhau.

    Như vậy tổng số tiền T và T1 đánh bạc với nhau ngày 25/12/2024 là 14.300.000đ + 24.000.000đ = 38.300.000đ. Số tiền này T1 và T chưa thanh toán với nhau.

Kết quả trưng cầu giám định:

  1. Ngày 22/01/2025, Cơ quan điều tra Công an tỉnh V có Quyết định số: 266 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng lắp thẻ sim số 0973.008.313 tạm giữ của Đoàn Văn T2.

    Tại Kết luận giám định số: 507/KLGĐ-KTHS ngày 19/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: “Không tìm thấy dữ liệu theo yêu cầu giám định”.

  2. Ngày 22/01/2025, Cơ quan điều tra Công an tỉnh V có Quyết định số: 268 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh lắp thẻ sim số 0987.148.113 tạm giữ của Nguyễn Văn T1.

    Tại Kết luận giám định số: 505/KLGĐ-KTHS ngày 19/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: “Tìm thấy 90 hình ảnh được lưu trữ trong thư mục “Ảnh” trên mẫu cần giám định trong khoảng thời gian từ ngày 15/12/2024 đến ngày 25/12/2024”. Kèm theo Kết luận giám định: “01 (một) đĩa DVD lưu trữ 57,2 MB dữ liệu, trên mặt đĩa có chữ ký của Giám định viên”. Tiến hành mở niêm phong, kiểm tra đĩa DVD kèm theo Kết luận giám định phát hiện trong đĩa có lưu trữ 90 hình ảnh. Trong đó có 01 ảnh chụp các số lô số đề mà T1 đã bán cho T ngày 25/12/2024 như đã nêu ở phần trên.

  3. Ngày 22/01/2025, Cơ quan điều tra Công an tỉnh V có Quyết định số: 269 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu đen lắp thẻ sim số 0901.784.161 tạm giữ của Dương Văn T.

    Tại Kết luận giám định số: 504/KLGĐ-KTHS ngày 19/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: “Chụp được 02 ảnh màn hình các cuộc trò chuyện qua ứng dụng Telegram theo yêu cầu giám định”. Kèm theo Kết luận giám định: “01 (một) phụ lục gồm 01 (một) trang giấy khổ A4”.

Kết quả kiểm tra điện thoại:

  • Tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu đen lắp thẻ sim số 0901.784.161 thu giữ của Dương Văn T phát hiện: Trong chiếc điện thoại này có cài đặt ứng dụng Telegram đăng nhập tài khoản có tên “Ahi” được đăng ký bởi số điện thoại 0901.784.xxx. Tại mục tin nhắn trong ứng dụng Telegram phát hiện ngày 25/12/2024, tài khoản T4 có tên “Ahi” có 05 tin nhắn đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô với tài khoản T4 có tên “Em Anh” được đăng ký bằng số điện thoại 0898.728.xxx và có 12 tin nhắn đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô tài khoản Telegram “TốVít” được đăng ký bằng số điện thoại 0973.300.xxx.

  • Tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh lắp thẻ sim số 0987.148.113 thu giữ của Nguyễn Văn T1 phát hiện: Tại thư mục ảnh có lưu trữ 01 hình ảnh chụp với nội dung có 05 tin nhắn thể hiện mua bán số lô với tài khoản T4 có tên “Ahi” được đăng ký bằng số điện thoại 0901.784.xxx.

  • Tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng lắp thẻ sim số 0973.008.313 thu giữ của Đoàn Văn T2 phát hiện: Trong chiếc điện thoại này có cài đặt ứng dụng Telegram đăng nhập tài khoản có tên “Cong123 To" được đăng ký bằng số điện thoại 0973.008.xxx. Tại mục “Contacts” trong ứng dụng T4 phát hiện tài khoản có tên “Cóc Thành”. Tại mục tin nhắn trong ứng dụng T4 đã bị xoá, không còn dữ liệu.

  • Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng lắp thẻ sim 0898.728.279 của Nguyễn Văn T1: Nguyễn Văn T1 khai ngày 25/12/2025, khi bị Công an triệu tập thì T1 hoảng sợ đã ném chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng lắp thẻ sim số 0898.728.279 mà T1 sử dụng để bán số lô cho Dương Văn T xuống sông giáp nhà T1. Cơ quan điều tra đã tiến truy tìm vị trí sông nơi T1 ném chiếc điện thoại xuống theo T1 chỉ dẫn, tiến hành tìm kiếm ở khu vực sát bờ sông và mò tìm dưới nước nhưng không tìm thấy chiếc điện thoại này, nên không có căn cứ để xử lý.

Kết quả thu giữ điện tín:

Ngày 21/01/2025, Cơ quan điều tra ra Lệnh thu giữ điện tín yêu cầu Tổng Công ty V và Tập đoàn C3 cung cấp thông tin chủ thuê bao và thu giữ chi tiết lịch sử liên lạc các cuộc gọi đi, gọi đến, nội dung tin nhắn gửi đi và tin nhắn gửi đến trong thời gian từ ngày 01/12/2024 đến ngày 25/12/2024 đối với 04 số thuê bao điện thoại, gồm: 0901.784.xxx; 0898.728.279; 0973.008.313; 0987.148.113 thu giữ của Dương Văn T, Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2.

Ngày 13/02/2025, Công ty D2 -Tổng Công ty V có công văn phúc đáp số: 185/MOBIFONE4-TH trả lời như sau:

  • Thông tin chủ thuê bao 0901.784.161 là Dương Văn T, sinh ngày 23/07/1994, số CCCD: [...]; cấp ngày: 04/3/2022; địa chỉ: Thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Bảng kê chi tiết cuộc gọi đi, cuộc gọi đến của số thuê bao 0901.784.161 gồm danh sách, tài liệu kèm theo. Hệ thống không lưu giữ cuộc gọi nhỡ, tin nhắn đi, tin nhắn đến của số thuê bao 0901.784.161 từ ngày 01/12/2024 đến ngày 25/12/2024.

  • Số thuê bao 0898.728.279 không có thông tin trên hệ thống.

Ngày 14/02/2025, Tập đoàn C3 có công văn phúc đáp số 1608/CNVTQĐ-CTr như sau:

  • Thông tin số thuê bao 0973.008.313 là Đoàn Văn T2, sinh ngày 05/02/1993; địa chỉ: TDP T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; số CCCD: 02609300017, cấp ngày 13/8/2021; ngày kích hoạt 06/9/2013; tình trạng thuê bao: Hoạt động. Bảng kê chi tiết cuộc gọi đi, cuộc gọi đến của số thuê bao 0973.008.313 gồm danh sách, tài liệu kèm theo. Hệ thống không lưu giữ cuộc gọi nhỡ, tin nhắn đi, tin nhắn đến của số thuê bao 0973.008.313 từ ngày 01/12/2024 đến ngày 25/12/2024.

  • Thông tin số thuê bao 0987.148.113 là Nguyễn Văn T1, sinh ngày 04/08/1994; địa chỉ: Thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; số CCCD: [...], cấp ngày 10/5/2021; ngày kích hoạt 15/4/2012; tình trạng thuê bao: Hoạt động. Bảng kê chi tiết cuộc gọi đi, cuộc gọi đến của số thuê bao 0987148113 gồm danh sách, tài liệu kèm theo. Hệ thống không lưu giữ cuộc gọi nhỡ, tin nhắn đi, tin nhắn đến của số thuê bao 0987148113 từ ngày 01/12/2024 đến ngày 25/12/2024.

Kết quả xác minh tại Công ty TNHH một thành viên X: Kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng hồi 18h15' ngày 25/12/2024 gồm 08 giải, 27 lượt quay. Xác định:

  • Có 05 số lô mà T mua của T1 vào ngày 25/12/2024, gồm: 85, 08 trùng với 02 số cuối của giải ba; 89 trùng với 02 số cuối của giải tư và giải bảy; 47, 64 trùng với 02 số cuối của giải năm.

  • Có 03 số lô mà T2 mua của T vào ngày 25/12/2024, gồm: 89 trùng với 02 số cuối của giải tư và giải bảy; 47, 64 trùng với 02 số cuối của giải năm.

Về xử lý vật chứng và đồ vật:

  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu đen lắp thẻ sim số 0901.784.161 của Dương Văn T, kết quả điều tra xác định là phương tiện mà T sử dụng để thực hiện hành vi đánh bạc.

  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh lắp thẻ sim số 0987.148.113 của Nguyễn Văn T1, điện thoại và thẻ sim này lại là đồ vật lưu trữ dữ liệu, thông tin về hành vi đánh bạc của T1. Quá trình điều tra xác định đây là vật chứng của vụ án.

  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng lắp thẻ sim số 0973.008.313 của Đoàn Văn T2, T2 khai chiếc điện thoại này không phải là chiếc điện thoại Tố dùng để nhắn tin đánh bạc với T, còn điện thoại mà T2 sử dụng vào việc đánh bạc đã bị T2 làm rơi mất trước đó. Do vậy, chiếc điện thoại Iphone 6S không phải là vật chứng của vụ án.

  • Về số tiền dùng đánh bạc phải truy thu là 38.300.000 đồng; bao gồm: Bị cáo Dương Văn T đã sử dụng số tiền 6.600.000 đồng để mua số lô của T1 ngày 25/12/2024; bị cáo Nguyễn Văn T1 đã trúng 24.000.000 đồng số lô của T; bị cáo Đoàn Văn T2 đã sử dụng số tiền 7.700.000 đồng mua lô của T.

Quá trình điều tra, các bị cáo Dương Văn T, Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2 đã nộp toàn bộ số tiền 38.300.000 đồng nêu trên.

Cáo trạng số: 80/CT-VKS-P2 ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố các bị cáo Dương Văn T, Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Dương Văn T, Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2 phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Dương Văn T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” cho hưởng án treo; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Đánh bạc” cho hưởng án treo; Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T2 từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Đánh bạc” cho hưởng án treo.

Phạt các bị cáo Dương Văn T, Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2 mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước 02 điện thoại di động (bao gồm: 01 Điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu đen lắp thẻ sim số 0901.784.161 thu giữa của Dương Văn T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh lắp thẻ sim số 0978.148.113 thu giữ của Nguyễn Văn T1) do được sử dụng vào việc thực hiện tội phạm; trả lại cho bị cáo Đoàn Văn T2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng lắp thẻ sim số 0973.008.313 vì chiếc điện thoại này T2 không sử dụng vào việc thực hiện hành vi mua bán số lô, số đề nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Các bị cáo có quan điểm hoàn toàn đồng ý với tội danh và điều luật do Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố không có ý kiến tranh luận gì. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét xử phạt các bị cáo mức hình phạt thấp nhất, hưởng án treo cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Dương Văn T, Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau về thời gian, cách thức thực hiện tội phạm và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Xuất phát từ mục đích tư lợi, trong khoảng thời gian từ 17 giờ 29 phút đến 17 giờ 59 phút, ngày 25/12/2024 các bị cáo Dương Văn T, Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2 đã thực hiện hành vi đánh bạc ăn tiền bằng hình thức mua, bán số lô với nhau thì bị phát hiện, bắt giữ. Kết quả điều tra xác định số tiền Dương Văn T đánh bạc với Đoàn Văn T2 là 15.700.000 đồng; số tiền Dương Văn T đánh bạc với Nguyễn Văn T1 là 38.300.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án các bị cáo Dương văn T, Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2 đã nộp lại toàn bộ số tiền trên để khắc phục hậu quả.

Mặc dù trong ngày 25/12/2024 Dương Văn T đều mua bán, số lô với Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2, tuy nhiên sau khi nhận các tin nhắn của T2 thì T đã chuyển các số lô này cho T1. Do vậy nên không có căn cứ để xác định T có hành vi tổ chức đánh bạc theo quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015

Hành vi mua bán số lô với nhau do các bị cáo Dương Văn T, Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2 thực hiện đã phạm vào tội “Đánh bạc”. Căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện tội phạm, nhân thân của các bị cáo và số tiền sử dụng vào việc phạm tội thì hành vi do các bị cáo Dương Văn T, Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2 thực hiện đã phạm vào khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào, được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.......thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Đánh bạc là tệ nạn xã hội, đồng thời đánh bạc còn là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng, phòng ngừa chung, phục vụ tốt việc giữ vững an ninh chính trị tại địa phương và làm gương cho người khác.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc, xem xét đến tính chất cũng như mức độ thực hiện tội phạm và hậu quả xảy ra, số tiền được sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo; Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi phạm tội các bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu bị xử lý trước pháp luật và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình giải quyết vụ án các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện; quá trình giải quyết vụ án các bị cáo tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền sử dụng vào việc đánh bạc; các bị cáo Dương Văn T và Đoàn Văn T2 tự nguyện ra đầu thú, khai rõ hành vi đã thực hiện; bị cáo Dương Văn T có đơn được địa phương xác nhận thể hiện bản thân luôn chấp hành đầy đủ pháp luật của nhà nước, quy định của địa phương nơi cư trú, có hoàn cảnh gia đình éo le hiện đang chăm sóc em trai là Dương Văn T5 bị khuyết tật nặng, không có khả năng lao động đang được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng; gia đình có người thân được tặng thưởng huân huy chương kháng chiến. Do vậy các bị cáo Dương Văn T, Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2 đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Dương Văn T, Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2 đều không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3]. Sau khi cân nhắc, xem xét tính chất cũng như mức độ thực hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo; Hội đồng xét xử thấy rằng: Trước khi phạm tội các bị cáo là người có nhân thân tốt lần đầu bị xử lý trước pháp luật và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào; có nơi cư trú ổn định rõ ràng; thật sự tỏ ra ăn năn hối cải; gia đình bị cáo thuộc diện có công với nhà nước. Vì vậy không cần thiết bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo cải tạo tại địa phương là phù hợp, vừa đảm bảo mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Việc cho các bị cáo hưởng án treo, cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương không ảnh hưởng tới việc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, không trái với Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4]. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật cần chấp nhận.

[5]. Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 02 điện thoại di động đã thu giữ (bao gồm: 01 Điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu đen lắp thẻ sim số 0901.784.161 thu giữa của Dương Văn T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh lắp thẻ sim số 0978.148.113 thu giữ của Nguyễn Văn T1); quá trình điều tra xác định sử dụng vào việc nhắn tin, mua bán số lô, là công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm. Do vậy cần tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước.

  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng lắp thẻ sim số 0973.008.313 thu giữ của Đoàn Văn T2. Kết quả điều tra xác định điện thoại này T2 không sử dụng vào việc thực hiện hành vi mua bán số lô cần trả lại cho Đoàn Văn T2 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

  • Đối với số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc cần buộc các bị cáo phải nộp lại để sung quỹ nhà nước. Cụ thể số tiền phải truy thu là 38.300.000 đồng; bao gồm: Bị cáo Dương Văn T phải nộp số tiền 6.600.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn T1 phải nộp số tiền 24.000.000 đồng và bị cáo Đoàn Văn T2 phải nộp số tiền 7.700.000 đồng.

[6]. Về việc áp dụng hình phạt bổ sung: Xét thấy vì mục đích tư lợi các bị cáo Dương Văn T, Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2 thực hiện hành vi đánh bạc ăn tiền nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền. Tuy nhiên căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của các bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền mức khởi điểm và trên khởi điểm do điều luật quy định là phù hợp.

[7]. Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Dương Văn T, Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2 phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Dương Văn T, Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2 phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Dương Văn T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc” cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 01 (Một) năm tù về tội “Đánh bạc” cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T2 09 (C2) tháng tù về tội “Đánh bạc” cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Dương Văn T, Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2 cho UBND thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015: Phạt bị cáo Dương Văn T 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng); phạt các bị cáo Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2 mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung quỹ nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước 02 điện thoại di động đã thu giữ (bao gồm: 01 Điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu đen lắp thẻ sim số 0901.784.161 thu giữa của Dương Văn T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh lắp thẻ sim số 0978.148.113 thu giữ của Nguyễn Văn T1); quá trình điều tra xác định sử dụng vào việc nhắn tin, mua bán số lô, là công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm.

  • Trả lại cho bị cáo Đoàn Văn T2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng lắp thẻ sim số 0973.008.313 thu giữ của Đoàn Văn T2. Kết quả điều tra xác định điện thoại này T2 không sử dụng vào việc thực hiện hành vi mua bán số lô nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

  • Buộc các bị cáo Dương Văn T, Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2 phải nộp lại số tiền 38.300.000 đồng để sung quỹ nhà nước do sử dụng vào việc thực hiện tội phạm. Cụ thể: Bị cáo Dương Văn T phải nộp số tiền 6.600.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn T1 phải nộp số tiền 24.000.000 đồng và bị cáo Đoàn Văn T2 phải nộp số tiền 7.700.000 đồng. Xác nhận các bị cáo Dương Văn T, Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2 đã nộp đủ số tiền trên trong quá trình giải quyết vụ án.

(Vật chứng tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước và trả lại cho chủ sở hữu có đặc điểm như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Công an tỉnh V với Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc ngày 13 tháng 6 năm 2025).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Dương Văn T, Nguyễn Văn T1 và Đoàn Văn T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh phúc;
  • - Phòng Hồ sơ - CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, Phòng HC-TP, Tòa Hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Duy Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 80/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Văn T phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger