|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 80/2025/HS-ST Ngày: 27 - 02 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Học.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tam.
Bà Nguyễn Thị Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Bình - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Thành T, sinh năm 1995, tại tỉnh Đồng Nai; nơi thường trú: Tổ F, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Anh Đ, sinh năm 1972 và bà Phan Thị N, sinh năm 1974; bị cáo là con thứ 02 trong gia đình có 04 anh chị em và chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo ra đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 21/10/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ; có mặt.
- Bị hại: Chị Phạm Thị Mỹ H, sinh năm 2000, địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Văn M, sinh năm 1977, địa chỉ: A, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thành T và Phan Văn G (sinh năm 1994, nơi đăng ký thường trú: Tổ 1, ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai) là bạn bè quen biết nhau. Vào ngày 31/01/2021, T đến phòng trọ của anh G tại địa chỉ E, tổ A, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để chơi. Đến sáng ngày 02/02/2021 sau khi G đi làm, T đã hỏi mượn chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 49H1-474.19 của chị Phạm Thị Mỹ H (sinh năm 2000, nơi đăng ký thường trú: xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng) là cháu ruột của anh G ở chung phòng trọ, để đi tìm bạn ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thì được chị H đồng ý. Sau đó, chị H giao chiếc xe trên cho T điều khiển chở chị H đến Công ty P thuộc đường số G, Khu Công nghiệp A phường L, thành phố B để làm việc và giao xe cho T mượn. Sau khi mượn được xe, do cần tiền tiêu xài T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe môtô của chị H nên T không đi tìm bạn mà điều khiển xe đi đến Cơ sở dịch vụ cầm đồ “Quang Minh” (Địa chỉ: số F, Quốc lộ A, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương) do ông Đỗ Văn M (sinh năm 1977) làm chủ cầm cố chiếc xe được số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) rồi bỏ trốn và tiêu xài. Sau đó, thông qua xe khách, T gửi giấy tờ cầm cố chiếc xe của chị H cho anh G thì bị chị H trình báo Công an phường L lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khởi tố điều tra xử lý. Ngày 15/9/2023, T đã bị khởi tố bị can để điều tra xử lý.
Vật chứng vụ án gồm:
- 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 49H1-474.19 kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe, do ông Đỗ Văn M giao nộp, là tài sản của chị Phạm Thị Mỹ H bị chiếm đoạt nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H.
- 01 Hợp đồng dịch vụ cầm đồ "Quang Minh" số 001804, do ông Đỗ Văn M giao nộp. Lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
- 01 Hộ chiếu mang tên Nguyễn Thành T, số C5133323, do ông Đỗ Văn M giao nộp, là giấy tờ cá nhân của T nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho T.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 203/KL-HĐĐGTS ngày 07/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự thành phố B kết luận: “01 xe mô tô biển số 49H1-474.19, trị giá 28.620.000₫ (Hai mươi tám triệu, sáu trăm hai mươi nghìn đồng)”.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Phạm Thị Mỹ H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Đỗ Văn M, đều không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Tại Cáo trạng số 70/CT-VKS-BH ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Trình bày của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, xử phạt bị cáo từ 14 đến 16 tháng tù.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt và không có yêu cầu bồi thường, do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:
Vào ngày 02/02/2021 tại phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thành T đã có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 49H1-474.19 trị giá 28.620.000₫ (Hai mươi tám triệu, sáu trăm hai mươi nghìn đồng) của chị Phạm Thị Mỹ H, sau đó bỏ trốn thì bị khởi tố, điều tra xử lý.
Với hành vi trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về hình phạt:
- - Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, nên cần có hình phạt nghiêm đối với bị cáo.
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đầu thú theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự nêu trên. Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Phạm Thị Mỹ H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn M không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 49H1-474.19 kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe, do ông Đỗ Văn M giao nộp, là tài sản của chị H bị chiếm đoạt nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H.
- - 01 Hợp đồng dịch vụ cầm đồ "Quang Minh" số 001804, do ông Đỗ Văn M giao nộp, lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
- - 01 Hộ chiếu mang tên Nguyễn Thành T, số C5133323, do ông Đỗ Văn M giao nộp, là giấy tờ cá nhân của T nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho T.
[7] Đối với ông Đỗ Văn M là người nhận cầm cố chiếc xe môtô do bị cáo chiếm đoạt của chị H. Tuy nhiên, quá trình cầm cố, ông M không biết là tài sản do phạm tội mà có nên không xử lý hình sự là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
1. Áp dụng a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 01 (Một) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/10/2024.
2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thành T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Học |
Bản án số 80/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 80/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh T phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
