Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN AN DƯƠNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 80/2025/HS-ST

Ngày 15-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Dung

Bà Bùi Thị Nhàn

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Anh Thư - Thư ký Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Trà My - Kiểm sát viên.

- Thư ký ở điểm cầu thành phần: Ông Lê Long B – Thư ký Tòa án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến (Điểm cầu trung tâm: Tòa án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng; điểm cầu thành phần: Trại Tạm giam Công an thành phố H) vụ án hình sự thụ lý số: 77/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Hồng H, sinh ngày 24 tháng 5 năm 1998, tại Hải Phòng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị T; chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Có 02 tiền án chưa được xóa án tích tại bản án số 05/2019/HS-ST ngày 11/3/2019 Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa thi hành xong án phí) và bản án số 04/2022/HS-ST ngày 15/3/2022 Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chưa thi hành xong án phí); nhân thân: Có 03 lần bị Tòa án xét xử nhưng không tính là tiền án do thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi gồm bản án số 03/2016/HSST ngày 10/3/2016 Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bản án số 11/2016/HSST ngày 16/3/2016 Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và bản án số 24/2016/HSST ngày 26/5/2016 Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị tạm giữ ngày 31/10/2024, tạm giam ngày 07/11/2024; có mặt.

- Bị hại:

+ Anh Lường Văn T1, sinh năm 2003; địa chỉ: Tổ dân phố Tỉnh Thủy 1, phường A, quận A, thành phố Hải Phòng; có mặt.

+ Anh Nguyễn Hữu K, sinh năm 1998; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường A, quận A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 02 giờ ngày 31/10/2024, Công an huyện A bắt quả tang Nguyễn Hồng H trộm cắp 01 xe mô tô Honda Dream biển kiểm soát 14F2-7943 của anh Nguyễn Hữu K, tại nhà trọ thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ xe mô tô 14F2-7943 và xe mô tô biển kiểm soát 34AE- 038.29 do H sử dụng đi trộm cắp.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hồng H tại thôn C, xã Q, huyện A, thu giữ 01 đăng ký xe mô tô Honda Airblade biển kiểm soát 27B2- 375.55 tên chủ xe là Lường Văn T1.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Hồng H khai nhận: Khoảng hơn 02 giờ ngày 15/10/2024, H đi bộ quanh khu vực thôn T, xã A, huyện A, thấy hành lang khu nhà trọ của bà Bùi Thị N để nhiều xe mô tô không có người trông coi, H đi vào lấy xe mô tô biển kiểm soát 27B2-375.55 mang về nhà trọ tại thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng. Ngày 16/10/2024 H dắt xe mô tô trên đến cửa hàng sửa khoá (không rõ địa chỉ) làm khoá mới, H mở cốp xe có 01 đăng ký xe biển kiểm soát 27B2-375.55 mang tên Lường Văn T1. Sau đó H đi xe mô tô đến huyện B, tỉnh Hải Dương gặp 01 người nam giới để bán xe, người này lấy xe đi thử nhưng đi mất không quay lại. H về nhà, cất đăng ký xe mô tô tại phòng trọ. Khoảng 02 giờ ngày 31/10/2024, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 34AE-038.29 đến khu trọ của ông Nguyễn Văn H2 ở thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng, cổng mở nên H dựng xe ở ngoài đường rồi đi bộ vào trong, thấy xe mô tô biển kiểm soát 14F2-7943 không khoá cổ. H dắt xe mô tô này ra ngoài cổng khu trọ được khoảng 30m thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Kết luận số 105/KL-HĐĐGTS ngày 05/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, kết luận: Giá trị tài sản của xe mô tô hiệu Honda Air Blade, BKS: 27B2 - 375.55, đã qua sử dụng là: 39.200.000 đồng. Giá trị tài sản của xe mô tô hiệu Honda Dream C100, biển kiểm soát: 14F2 - 7943, đã qua sử dụng là: 13.511.000 đồng.

Trách nhiệm dân sự: Anh Lường Văn T1 yêu cầu H trả lại trị giá tài sản bị chiếm đoạt, anh Nguyễn Hữu K đã nhận lại tài sản không yêu cầu H bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho H.

Cáo trạng số 77/CT-VKSAD ngày 24 tháng 3 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Hồng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hồng H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Bị cáo nhận thức hình vi của mình là trái pháp luật, bị cáo gửi lời xin lỗi các bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Bị hại anh Lường Văn T1 yêu cầu bị cáo bồi thường gía trị xe mô tô hiệu Honda Air Blade, biển kiểm soát: 27B2 - 375.55 với số tiền là 39.200.000 đồng và đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng H từ 48 tháng đến 54 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo phải bồi thường cho anh T1 số tiền là 39.200.000đồng. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với vật chứng thu giữ, Kết luận giám định số 105/KL-HĐĐGTS ngày 05/11/2024 và với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 15/10/2024 và ngày 31/10/2024, tại xã A và xã H, huyện A (nay là phường A và phường H, quận A), thành phố Hải Phòng, Nguyễn Hồng H đã 02 lần lén lút chiếm đoạt tài sản là xe mô tô biển kiểm soát 27B2- 375.55 của anh Lường Văn T1 trị giá 39.200.000 đồng và xe mô tô biển kiểm soát 14F2 – 7943 của anh Nguyễn Hữu K trị giá 13.511.000 đồng, tổng trị giá tài sản 02 lần bị cáo chiếm đoạt là 52.711.000 đồng. Hành vi lợi dụng sơ hở của bị hại và lén lút chiếm đoạt tài sản với tổng trị giá 52.711.000 đồng là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 52.711.000 đồng; bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích, trong đó lần phạm tội tại bản án số 04/2022/HS-ST ngày 15/3/2022 Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng đã xác định bị cáo là tái phạm, nay bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, do đó hành vi phạm tội lần này của bị thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo Điều 53 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với các tình tiết định khung hình phạt là “Chiếm đoạt tài sản có trị giá từ 50.000.000đồng đến dưới 200.000.000đồng” và “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại các điểm c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, hình phạt: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị hại Nguyễn Hữu K có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo hai lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, giá trị tài sản mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng tặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài hai tiền án chưa được xóa, bị cáo còn bị các Tòa án xét xử 03 lần khác về hành vi trộm cắp tài sản chứng tỏ bị cáo là người có nhân thân xấu nên cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét tính chất hành vi phạm tội, hoàn cảnh của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Chiếc xe mô tô Honda Air Blade biển kiểm soát 27B2 - 375.55 không thu hồi được và anh T1 có yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá xe với số tiền là 39.200.000đồng. Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản của anh T1 là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 589 của Bộ luật Dân sự. Anh Nguyễn Hữu K đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét giải quyết.

[6] Về vật chứng: 01 đăng ký xe mô tô 27B2- 375.55 và 01 xe mô tô biển kiểm soát 14F2 – 7943, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu anh Lường Văn T1 và cho anh Nguyễn Hữu K, 01 USB chứa dữ liệu camera thu tại hiện trường kèm theo hồ sơ vụ án. Xe mô tô biển kiểm soát 34AE-038.29, H khai trộm cắp vào cuối tháng 9/2024 tại Quận N Cơ quan điều tra đã truy tìm người bị hại và gửi công văn trao đổi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả nên đã tách ra làm rõ xử lý sau.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm; bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điểm c, g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hồng H.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng H 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 31/10/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật Hình sự, các điều 584, 585, 586 và 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Hồng H phải bồi thường cho anh Lường Văn T1 số tiền 39.200.000 đồng.

Đối với khoản tiền phải bồi thường nêu trên, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền bồi thường, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các điều 357 và 468 của Bộ luật Dân sự.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 6 và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Hồng H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự và 1.960.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại,
  • - Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng;
  • - Trại Tạm giam Công an T.P Hải Phòng;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T.P Hải Phòng;
  • - Tòa án nhân dân T.P Hải Phòng;
  • - Phòng PV 06, PC 10 Công an T.P Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Liên

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 80/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng Hiệp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger